Chương 1: Giới thiệu. Nội dung chương này trình bày cơ sở chọn đề tài, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu và giới hạn nghiên cứu, Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Giới thiệu các định nghĩa, các mô hình, tổng quan học thuật có liên quan đến đề tài nghiên cứu. 5 Chương 3: Tổng quan và thực trạng về đào tạo từ xa.
Trình bày tổng quan về thực trạng đào tạo từ xa ở Việt Nam cùng với các văn bản pháp lý có liên quan. Đồng thời thống kê, phân tích chung về tuyển sinh và bỏ học của sinh viên trong khung phân tích. Chương 4: Thiết kế nghiên cứu và phân tích dữ liệu. Phân tích kết quả nghiên cứu.
Phân tích, diễn giải các dữ liệu, phân tích kết quả hồi quy Binary logistic. Chương 5: Giải pháp hạn chế tình trạng bỏ học. Gợi ý từ kết quả phân tích hồi quy ở chương 4, từ đó đưa ra một số giải pháp và kết luận. 6 CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ ĐÀO TẠO TỪ XA 2.1 Đào tạo từ xa Theo nhiều học giả trên thế giới thì “Giáo dục từ xa là một quá trình giáo dục - đào tạo mà trong đó phần lớn hoặc toàn bộ quá trình giáo dục - đào tạo có sự tách biệt giữa người dạy và người học về mặt không gian và thời gian” (Wikipedia).
Thực tế không có một định nghĩa chính xác về Đào tạo từ xa. Tuy nhiên một cách tổng quát có thể hiểu Đào tạo từ xa là hoạt động dạy học diễn ra một cách gián tiếp giữa người học và người dạy, bao hàm các yếu tố dưới đây: - Giảng viên và sinh viên ở một khoảng cách xa (tức là có sự ngăn cách về mặt không gian: khoảng cách này là tương đối, có thể là cùng trường học nhưng khác phòng học hoặc khác nhau về vị trí địa lý, có thể vài kilomet hoặc hàng ngàn kilomet). - Nội dung dạy học trong quá trình dạy học được truyền thụ, phân phối tới cho sinh viên chủ yếu thông qua các hình thức thể hiện gián tiếp như: văn bản in, âm thanh, hình ảnh, máy tính, online. - Sự liên hệ, tương tác giữa giảng viên và sinh viên (nếu có) trong quá trình dạy học có thể được thực hiện tức thời hoặc trễ sau một khoảng thời gian nào đó (có sự ngăn cách về mặt thời gian).
Các chương trình ĐTTX ngày càng hoàn thiện, bổ sung kịp thời những biện pháp nâng cao hiệu quả đào tạo như việc gia tăng và đa dạng hóa các hoạt động hỗ trợ học tập cho sinh viên. Giảng viên ngày càng được huấn luyện và trở nên có kinh nghiệm hơn với việc giảng dạy từ xa. Kỹ thuật và công nghệ đã giúp tạo nên quá trình tương tác giữa thầy và trò như những gì trong lớp học thật vẫn xảy ra. Sinh viên ngày càng quen với máy tính, internet và học trực tuyến.
Tất cả các yếu tố trên tạo nên việc gia tăng hiệu quả của ĐTTX trong thời gian qua. 7 Mặc dù ĐTTX vẫn dùng để dạy cho học sinh tiểu học hay trung học phổ thông, nhưng người học từ xa chủ yếu là người lớn theo học các chương trình đại học. Sinh viên người lớn thường chọn học từ xa để mong có đủ bằng cấp để làm việc và thăng tiến, cũng như để có thể học tập suốt đời mà vẫn không bị ràng buộc bởi trách nhiệm của việc học toàn thời gian hay không bị hạn chế bởi khoảng cách xa với nơi mình cần đến học (Columbaro & Monaghan, 2009). Tùy theo phương thức phân phối các nội dung dạy học, sự liên hệ, tương tác giữa giảng viên và sinh viên mà có các hình thức tổ chức, thực hiện khác nhau.
Đào tạo từ xa chia ra: Đào tạo từ xa tương tác và đào tạo từ xa không tương tác. - ĐTTX tương tác: Phương thức đào tạo này có sự tương tác theo thời gian thực, trực tiếp giữa giảng viên và sinh viên trong quá trình dạy học. Trong ĐTTX tương tác, có một số phương thức tổ chức đào tạo sử dụng công nghệ điển hình như radio hai chiều, hội nghị trực tuyến bằng âm thanh, cầu truyền hình. Giá thành của công nghệ này đắt, thường chỉ sử dụng cho nghiên cứu, cho các hoạt động cần có chất lượng âm thanh và hình ảnh rất cao.
- ĐTTX không tương tác: Phương thức đào tạo này không có sự tương tác theo thời gian thực, trực tiếp giữa giảng viên và sinh viên trong quá trình dạy học. Trong ĐTTX không tương tác có các phương thức được sử dụng điển hình như tài liệu, bài giảng in ấn. Đây là công nghệ cổ điển, truyền thống nhất, dễ thực hiện nhất và đặc biệt là rẻ tiền nhất. Ngoài ra còn có phương tiện phát thanh, truyền hình, băng/đĩa hình, băng/đĩa tiếng, các phần mềm dạy học, các công cụ mô phỏng, mạng, internet.
Ưu điểm của phương thức này là cùng một lúc có thể giảng dạy cho số lượng lớn sinh viên. Khả năng tiếp cận của người học cũng rất phong phú, tiện lợi. Lợi ích của ĐTTX ngày càng được xác lập rõ rệt. Thứ nhất, ĐTTX thúc đẩy sự cởi mở của nền giáo dục quốc dân, tạo cơ hội cho các đối tượng gặp khó khăn về thời gian, địa điểm, hoàn cảnh kinh tế, tuổi tác, trình độ tiếp cận tri thức.
Hình thức đào tạo mềm dẻo, linh hoạt này tạo điều kiện cho việc học tập suốt 8 đời và giáo dục cho mọi người. Thứ hai, đối với cá nhân người học, ĐTTX giúp cho sinh viên tiết kiệm thời gian vì họ không cần di chuyển đến trường; sinh viên được học theo thời gian biểu tự chọn phù hợp với hoàn cảnh của mình. Ngoài ra, với việc kiến thức và thông tin thay đổi nhanh chóng, các nhà chuyên môn có thể luôn cập nhật kiến thức mới mà không cần di chuyển xa đến nơi cung cấp các khóa bồi dưỡng chuyên môn. Với những môn học trên mạng, giảng viên cũng không cần di chuyển và có thể giảng dạy tại nhà.
Lợi ích thứ ba của hình thức đào tạo này là tiết kiệm chi phí. Chi phí đi lại của sinh viên cũng như của giảng viên có thể được tiết kiệm. Các cơ sở học khác nhau có thể có cùng một giảng viên, với những môn học trên mạng giảng viên có thể giảng dạy cho nhiều người hơn. Bên cạnh những ưu điểm trên, ĐTTX cũng có những hạn chế nhất định.
Thứ nhất là về chất lượng giảng dạy từ xa. Chất lượng giảng dạy tùy thuộc vào thái độ quản lý và giảng viên. Thường thái độ của người quản lý xem ĐTTX như một loại hình đào tạo hạng hai và giảng viên cho rằng chất lượng lớp dạy từ xa thấp hơn hoặc bằng chất lượng của lớp học truyền thống, nên họ không cố gắng để điều chỉnh chương trình đào tạo hay bài giảng cho phù hợp với giảng dạy từ xa và chấp nhận sự dễ dãi trong đào tạo. Bên cạnh đó, khi giảng dạy giảng viên cũng khó điều chỉnh bài giảng kịp thời tùy vào tình hình do không tiếp xúc trực tiếp với sinh viên, và điều này có thể ảnh hưởng đến kết quả học tập.
Chính vì điều không thật sự gắn kết này sẽ ảnh hưởng xấu đến quá trình học tập của sinh viên (Valentine, 2002). Thứ hai là vấn đề liên quan đến người học. Không phải tất cả sinh viên đều phù hợp với loại hình học tập này. Theo Hanny và Newvin (2006), khi học từ xa sinh viên có thể tiếp nhận khó khăn kiến thức liên quan đến kỹ thuật, khoa học hay định lượng.
Người học từ xa muốn thành công cần có một số tính cách như khả năng chấp nhận sự mơ hồ, nhu cầu tự chủ và khả năng mềm dẻo, linh hoạt. So với sinh viên chính quy, học từ xa đòi hỏi người học phải tập trung hơn, quản lý thời gian tốt hơn, biết sử dụng công nghệ, có khả năng làm việc độc lập 9 và làm việc nhóm. Môi trường học tập độc lập có thể làm người học thiếu tập trung và ngại học. Việc trao đổi thông tin với thầy, bạn chủ yếu qua mạng, điện thoại có thể làm cho người học hiểu bài không thấu đáo và có cảm giác buồn chán.
Trạng thái đơn độc này cũng làm cho người học dần trở nên thiếu năng động, thiếu tự tin và suy giảm động lực học tập (Tạ Thị Hồng Hạnh, 2009).2 Bỏ học Theo định nghĩa của đa số các nhà nghiên cứu thì một học sinh (sinh viên) gọi là bỏ học khi họ dừng lại không đến các lớp học trước khi họ hoàn thành khóa học của họ. Theo Bean (1980), sinh viên bỏ học (drop-out) là sinh viên rời trường trước khi đạt được mục đích, ở đây có thể hiểu là trước khi tốt nghiệp đại học vì đối tượng nghiên cứu là những sinh viên theo học các chương trình dẫn đến cấp bằng cử nhân từ xa. Theo Quy chế tổ chức đào tạo, đánh giá kết quả học tập, cấp văn bằng tốt nghiệp, chứng chỉ, chứng nhận theo hình thức giáo dục từ xa Trường Đại học Mở TPHCM số 1198/QĐ-ĐHM, ngày 26/11/2010, mỗi học kỳ sinh viên phải đăng ký khối lượng học tập tối thiểu là một môn học. Trong thời gian đào tạo chính thức của khóa học, nếu sinh viên không đăng ký môn nào thì nhà trường xem như sinh viên tự ý nghỉ học tạm thời.
Sinh viên chỉ được phép học lại khi hoàn thành thủ tục đăng ký học lại. Thời gian học tập một khóa đại học được quy định từ 5-7 năm, và thời gian học tập được kéo dài thêm tối đa là 6 năm. Như vậy, thời gian tối đa để một sinh viên hoàn thành khóa học là từ 11-13 năm. Do vậy, nghiên cứu này sử dụng khái niệm sinh viên từ xa đang theo học là sinh viên có điểm thi cuối học kỳ tối thiểu một môn học.
Trong quá trình học, sinh viên không làm bài tập mà chỉ dự thi kết thúc môn học mà thôi. Như thế chỉ xác định được sinh viên có chính thức học hay không học vào cuối học kỳ, khi sinh viên thi kết thúc môn mà thôi. 10 Do quy định thời gian tối đa hoàn thành khóa học từ xa là 11-13 năm, nên trong vòng thời gian này sinh viên có thể nghỉ học một thời gian dài và trở về học hoàn tất những môn học cần thiết để tốt nghiệp. Nên sau khi tham khảo thực tế và kế thừa các nghiên cứu trước, tác giả chọn đối tượng nghiên cứu sinh viên bỏ học là sinh viên không học 3 học kỳ liên tiếp gần nhất trong nghiên cứu này, vì theo kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy thời gian ngưng học càng dài càng khẳng định thêm quyết định ngừng học tập của sinh viên.