Chương 1: Giới thiệu, mô tả ngắn gọn tính cấp thiết, mục tiêu, các câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu cũng như những dự kiến, những đóng góp của nghiên cứu trong thực tiễn. Chương 2: Trình bày cơ sở lý luận, tổng quan các yếu tố tác động tới kết quả học tập của sinh viên và xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất cùng với các giả thiết cho nghiên cứu. Chương này cũng trình bày một số khái niệm liên quan kết quả học tập, đồng thời tổng quan các nghiên cứu liên quan đến kết quả học tập của sinh viên nói chung, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập. Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu để kiểm tra thang đo và mô hình nghiên cứu cùng các giả thiết được đề ra.
Chương này trình bày rõ các nội dung: Quy trình nghiên cứu, thang đo nghiên cứu, phương pháp thu thập dữ liệu và kích thước mẫu cùng với việc mô tả thập được quy trình phân tích dữ liệu sẽ thực hiện. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu, thống kê mô tả kết quả nghiên cứu và phân tích kết quả mô hình hồi quy. Chương 5: Kết luận và gợi ý giải pháp góp phần nâng cao kết quả học tập của sinh viên UEH, đồng thời xác định một số hạn chế của đề tài nghiên cứu.” CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Lý thuyết thiết lập mục tiêu (Setting Goal Theory) “Lý thuyết thiết lập mục tiêu (Goal-setting theory) được Edwin Locke công bố vào năm 1960.
Locke cho rằng một nhân viên sẽ nỗ lực cao độ, tập trung hơn khi họ có một mục tiêu cụ thể, rõ ràng và có tính thử thách từ đó có thể nâng cao chất lượng công việc. Trong bài của Edwin Locke 1968 viết “Hướng tới một lý thuyết về tạo động lực và biện pháp khuyến khích,” ông cho thấy mục tiêu rõ ràng và những phản hồi thích hợp khuyến khích nhân viên. Ông tiếp tục nhấn mạnh rằng làm việc hướng tới 5 mục tiêu cũng là một nguồn chính của động lực trong đó, lần lượt hiệu suất được cải thiện. Mô hình thiết lập mục tiêu được Edwin Locke đề xuất với ba bước tiến hành cụ thể như sau: Bước 1: Xác định mục tiêu cụ thể.
Mục tiêu được đề ra cần đảm bảo nguyên tắc SMART với 5 yếu tố: Specific (cụ thể), Measurable (đo lường), Achievable (khả thi), Relevant (liên quan), Time bound (giới hạn thời gian). Nghiên cứu về thiết lập mục tiêu của Locke khuyến khích các nhà quản lý thiết lập mục tiêu vừa cụ thể nhưng vẫn cần đảm bảo có sự thách thức. Locke lý giải: một mục tiêu cụ thể và thử thách thì hiệu suất cũng như kết quả công việc của nhân viên thường đạt được vượt trội hơn rất nhiều so với các mục tiêu mơ hồ hoặc dễ dàng. Một mục tiêu mơ hồ sẽ theo dạng “cố hết sức”, “nỗ lực tiến lên” nên được cụ thể hóa như: “cố gắng hoàn thành ít nhất 75% khối lượng công việc trước thứ 6” chẳng hạn.1:Nguyên tắc SMART Nguồn: www.uk “Bước 2: Thuyết phục nhân viên chấp nhận mục tiêu.
Để đạt được mục tiêu đúng như kỳ vọng đã đề ra ban đầu nhà quản lý cần quan tâm đến yếu tố con người. Dù mục tiêu được đề ra đúng nhưng nhận viên không hiểu và không đi theo định hướng thì rất khó để hoàn thành mục tiêu. Vậy nên nhà quản lý nên cùng nhân viên đề ra mục tiêu và thuyết phục họ đi theo con đường để hoàn thành được nó. Ngoài ra nhà quản lý còn có thể khiến nhân viên thực hiện mục tiêu bằng cách gắn mục tiêu đề ra với lương, 6 thưởng của từng nhân viên cho từng bộ phận công việc.
Từ đó nhân viên sẽ xem việc hoàn thành công việc là mục tiêu họ cần hoàn thành. Bước 3: Tạo điều kiện, môi trường làm việc thuận lợi và cung cấp thông tin phản hồi. Nhà quản lý cần tạo điều kiện, môi trường làm việc thuận lợi và cung cấp thông tin phản hồi thường xuyên cho nhân viên thay vì chỉ giao mục tiêu và phó mặc cho nhân viên thực hiện. Thông qua phản hồi, nhân viên của bạn sẽ hiểu rõ họ cần cải thiện điểm thiếu sót nào, phát huy điểm tích cực nào trong công việc.
Đồng thời, nhà quản lý cũng cần cải thiện kinh nghiệm, kỹ năng làm việc của chính mình để có thể đào tạo, cung cấp thông tin phản hồi đầy đủ cho nhân viên. Lý thuyết này giúp thiết lập mục tiêu có tính cụ thể, phù hợp, thách thức, tham gia và phản hồi sẽ tạo ra động lực để hoàn thành mục tiêu, đạt được kết quả tốt nhất.2: Mô hình của thuyết thiết lập mục tiêu Nguồn: www. Thuyết mục tiêu thành tích (Achievement Goal Theory) “Các lý thuyết về mục tiêu thành tích (Dweck, 1986; Elliot, 1999; Nicholls, 1984, 1989) dựa trên quan điểm cho rằng những khác biệt trong cách các cá nhân đánh giá khả năng của chính mình (tức là nhận thức về năng lực) và xác định những thành tựu thành công là tiền đề quan trọng cho sự thành đạt. Hiểu quá trình tạo động lực của vận động viên trẻ (Duda, 2001).
Theo Nicholls (1984) nhận thức bên trong của một cá nhân về khả năng có thể được coi là cao hay thấp liên quan đến thành tích trong quá 7 khứ của người đó hoặc được đánh giá là năng lực so với người khác. Những quan niệm về khả năng này củng cố hai trạng thái mục tiêu thành tích tương phản nhau (tức là, sự tham gia của nhiệm vụ và cái tôi), xác định cách các cá nhân xác định thành công trong cài đặt thành tích (Harwood, Spray, & Keegan, 2008). Những cá nhân có được cảm giác về năng lực từ những cải tiến trong khả năng hoàn thiện cá nhân được coi là có liên quan đến nhiệm vụ, trong khi những cá nhân có được cảm giác về năng lực từ việc thể hiện hiệu suất vượt trội trong mối quan hệ với người khác được coi là có liên quan đến cái tôi. Từ góc độ lý thuyết, các mục tiêu thành tích (tức là, nhiệm vụ so với sự tham gia của bản ngã) trong một tình huống cụ thể được xác định bởi sự tương tác phức tạp giữa các định hướng mục tiêu mang tính định hướng của một người (cấp độ nội tâm) và môi trường động lực rộng hơn (cấp độ tình huống) được tạo ra bởi các tác nhân xã hội quan trọng ( ví dụ: huấn luyện viên, phụ huynh, bạn bè).
Ở cấp độ nội tâm, mô hình phân đôi của Nicholls (1984, 1989) về mục tiêu thành tích đề xuất rằng theo thời gian, các cá nhân phát triển thiên hướng thiên về nhận thức khả năng là định hướng theo nhiệm vụ hoặc bản ngã trong bối cảnh thành tích (Nicholls, 1989; Smith, Cumming, & Smoll, 2008). Có bằng chứng đáng kể cho thấy rằng mức độ định hướng công việc cao có liên quan đến nhiều kết quả tích cực về nhận thức, tình cảm và hành vi ở cấp độ cá nhân, trong khi mức độ định hướng bản ngã cao có liên quan đến kết quả trung tính hoặc kém tối ưu hơn, đặc biệt khi nhận thức năng lực thấp hoặc không đi kèm với các mục tiêu dựa trên nhiệm vụ (Harwood và cộng sự, 2008). Các khái niệm nghiên cứu Kết quả học tập của sinh viên nói chung và sinh viên UEH nói riêng không phải là một hiện tượng khách quan mà đều chịu tác động từ nhiều yếu tố.Các nhân tố nội tại và các nhân tố ngoại cảnh luôn đồng thời tác động lên kết quả học tập của sinh viên và có sự ảnh hưởng nhất định làm chi phối kết quả ấy theo hai chiều hướng tích cực và tiêu cực. Để làm rõ vấn đề này,trước tiên nhóm em xin đưa ra một số khái niệm về các yếu tố ảnh hưởng: “Sinh viên là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp.
Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ. Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học.” (Nguồn:https://hocluat.vn/wiki/sinh-vien/) 8 2.1 Khái niệm kết quả học tập Theo Nguyễn Đức Chính thì: “Kết quả học tập là mức độ đạt được kiến thức, kĩ năng hay nhận thức của người học trong một lĩnh vực nào đó (môn học),“dù hiểu theo nghĩa nào thì kết quả học tập cũng đều thể hiện ở mức độ đạt được các mục tiêu của dạy học, trong đó bao gồm 3 mục tiêu lớn là: nhận thức, hành động, xúc cảm. Gronlund, trong cuốn “Measurement and Evaluation in Teaching”, ông đã bàn đến “learning outcomes" như sau: “Mục đích của giáo dục là sự tiến bộ của sinh viên. Đây chính là kết quả cuối cùng của quá trình học tập nhằm thay đổi hành vi của sinh viên.” “Trên thực tế, có nhiều quan điểm đánh giá kết quả học tập của sinh viên tại các trường cao đẳng, đại học.
Kết quả học tập có thể thông qua điểm tích lũy GPA (Nguyễn Thi Thu An và cộng sự,2016). Hay kết quả học tập cũng có thể do sinh viên tự đánh giá sau quá trình học tập và kết quả tìm kiếm việc làm(Lê Đình Hải,2016- Nguyễn Thị Phương Thảo,2014). Trong nghiên cứu này, kết quả học tập được định nghĩa là đánh giá tổng quát của chính sinh viên về kiến thức và kỹ năng họ thu nhận được trong quá trình học tập các môn học cụ thể tại trường. Khái niệm về điều kiện học tập Điều kiện chỉ ra rằng học tập dựa trên sự liên kết của các tác nhân kích thích (thông tin) và sự phản ánh (hành vi hoặc cảm xúc).
Điều kiện học tập có nghĩa là thông qua sự tiếp nhận các tác nhân kích thích và sự phản hồi thích hợp, chúng ta hiểu rằng chúng có thể liên kết hoặc không liên kết. Có hai lý thuyết về điều kiện học tập: Lý thuyết điều kiện cổ điển và lý thuyết điều kiện hoạt. Khái niệm về động cơ học tập “Đây là một trong những thành phần có tính chất then chốt nhất trong việc học tập(Slavin, R. Motivating Student to Learn, Educational Psychology: Theory and Practice 9th Edition, Allyn & Bacon.
Động lực học tập tạo nên một nguồn sức mạnh, một nguồn năng lực mạnh mẽ khiến chủ thể hành động và duy trì hành động để đạt được kết quả. Khái niệm về phương pháp học tập Phương pháp học tập của cá nhân: Phương pháp học tập là những cách thức, xây dựng một lộ trình cụ thể trong quá trình học tập từ đó giúp bạn đạt được nhiều hiệu quả cao. Mục đích để người học hiểu và nắm được nội dung của bài học.