CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.4 Các công trình nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam, tự học đã trải qua một giai đoạn phát triển nghiên cứu lâu dài cả về lý luận và thực tiễn, những thành quả nghiên cứu về hoạt động tự học cũng rất phong phú: Vấn đề tự học được chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm. Trong các tác phẩm của Người đã đề cập sâu sắc đến vấn đề tự học, đặc biệt là việc tự học của sinh viên, cán bộ cách mạng. Tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh được Đảng ta vận dụng trong chương trình Giáo dục - Đào tạo, đặc biệt Nghị quyết TW 4 (khoá VIII) (năm 1996) chỉ rõ: “Phải khuyến khích tự học, phải áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”. Từ những năm 1960, nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê đã xuất bản cuốn sách Tự học để thành công (sau đổi tựa thành Tự học, một nhu cầu của thời đại) bàn luận sâu sắc, thấu đáo về ý nghĩa của việc tự học, làm thế nào để tự học tốt và đồng thời khẳng định không có động cơ và phương pháp học tập thì không thể thành công.
Tác giả Trần Thị Minh Hằng (2011) đã dày công tập hợp cơ sở lý luận về tự học trong cuốn sách “tự học và yếu tố tâm lý cơ bản trong tự học”. Tác giả đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kĩ năng tự học của sinh viên sư phạm và mô tả cụ thể cách tiến hành các kỹ năng tự học cơ bản gồm: Xây dựng kế hoạch tự học, đọc sách kèm theo ghi chép, tự kiểm tra - đánh giá ThS Nguyễn Hữu Dũng (2015) đã chỉ ra khái niệm của “tự học” cũng như vai trò của tự học trong đào tạo theo chế tín chỉ ở bậc đại học. Nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến tính tự học của sinh viên bao gồm: Môi trường học tập; Điều kiện học tập; Động cơ học tập của sinh viên; Phương pháp giảng dạy của giảng viên; Hình thức kiểm tra, đánh giá trên lớp. Bên cạnh đó, công trình nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Hữu Đặng, Lê Tín, Bùi Diên Giàu, Nguyễn Hồng Thoa, Hà Mỹ Trang, Lê Trần Phước Huy, Đặng Thị Ánh Dương và Hồ Hữu Phương Chi (2014) cho thấy, các yếu tố như điểm đầu vào đại 7 học, điểm trung bình tích lũy trong thời gian học đại học, bài tập nhóm có ảnh hưởng tích cực đến việc sử dụng thời gian tự học của sinh viên; trong khi đó, các yếu tố như số lượng tín chỉ đăng ký học, đi làm thêm, học vượt tiến độ làm cho thời gian tự học của sinh viên sẽ ít đi.
Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng phát hiện, sinh viên chưa khai thác tốt các thiết bị hỗ trợ cho việc tự học. Kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Tuân (2013) cho thấy các yếu tố chủ quan ảnh hưởng nhiều hơn các yếu tố khách quan đến tính tích cực tự học của sinh, trong đó “hứng thú học tập, hứng thú nghề nghiệp”, “động cơ học tập” là các yếu tố có ảnh hưởng nhiều nhất. Còn tại Đại học An Giang, tác giả Nguyễn Kỳ (2012) đã viết các biến số của việc tự học như: Môi trường học và cơ sở vật chất, Sự khen thưởng và khuyến khích tinh thần tự học, Giáo trình và tài liệu tự nghiên cứu, Thời gian rảnh rỗi. Kết quả sau cuộc phỏng vấn cho thấy chỉ có yếu tố Giáo trình và tài liệu tự nghiên cứu gây ảnh hưởng lớn đến phương pháp học của sinh viên.
Ngoài ra, biến số “Thời gian rảnh rỗi” cũng có ảnh hưởng, tuy nhiên mức độ không cao nên sẽ không quá quan trọng việc quyết định tự học của sinh viên.5 Các công trình nghiên cứu nước ngoài Sharma R. (1982) đã khẳng định: Người ta có thể dạy phương pháp cho sinh viên bằng nhiều hình thức khác nhau tùy theo điều kiện, hoàn cảnh, tùy theo tính chất đặc thù môn học và nội dung yêu cầu của bài học. Dạy phương pháp cho sinh viên phải thực hiện theo 3 giai đoạn sau: (1) GV thiết kế bài tập, chỉ dẫn cụ thể những gì sinh viên phải làm để hoàn thành bài tập. (2) GV tổ chức cho sinh viên tự nghiên cứu với sự hỗ trợ của những thông tin có sẵn.
(3) GV làm việc với sinh viên trên lớp theo hình thức cá nhân hay tập thể. (1982), ông đã nghiên cứu những mức độ của hoạt động học như: Mức độ nhận thức của việc học, mức độ trí tuệ của việc học, tính chất nhiều mức độ của việc học. Từ những mức độ của việc học cho thấy hoạt động học đòi hỏi phải có tính tự giác độc lập cao, để hoạt động học đạt kết quả thì học sinh phải tự học. 8 Theo Weiner (1983), việc học tập rèn luyện của người học bị phụ thuộc vào những điều kiện như: Nguồn tri thức vốn có; tạo tình huống học tập, rèn luyện; làm xuất hiện, phát huy yếu tố chủ động, tự giác, tích cực trong học tập, rèn luyện.
Tính hiệu quả (của việc học tập) hầu như phụ thuộc vào người học và sự khác biệt cá nhân của họ. Ngoài ra, Ôkôn V. (1976) khẳng định rằng: “Để tự học có hiệu quả thì người học phải biết kế hoạch hóa hoạt động tự học, tức là phải có kế hoạch tự học”. Theo ông, có kế hoạch tự học sẽ giúp người học chủ động trong hoạt động và thể hiện tác phong khoa học của bản thân.
Tự học là một quá trình lâu dài. Để người học kiểm soát tốt hơn việc tự học của mình, phải giúp họ nhận thức và xác định các chiến lược đã sử dụng và có thể sử dụng. Mỗi người học có sự khác nhau về thói quen học tập, nhu cầu và động lực học tập. Vậy nên, Dimitrios Thanasoulas (2000) và Muhammad Yusuf (2011) đều cho ra kết quả với 3 yếu tố ảnh hưởng là: Năng lực cá nhân, Động lực học tập, Phương pháp học tập.
9 2 CHƯƠNG II: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 2.1 Lý thuyết có liên quan đến vấn đề nghiên cứu a) Nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng: Nghiên cứu định tính là nghiên cứu được đặc trưng bởi mục đích của nghiên cứu và phương pháp được tiến hành. Nghiên cứu thu thập, phân tích những dữ liệu mang tính mô tả như những câu viết, hành vi, xử sự của con người được quan sát. Mục đích nghiên cứu là những mặt, những vấn đề của cuộc sống, xã hội, quan tâm đến ý nghĩa của các hiện tượng, tình huống, sự việc Nghiên cứu định lượng được Burns & Grove định nghĩa: “nghiên cứu định lượng là một quy trình nghiên cứu chính thức, khách quan và có hệ thống trong đó các dữ liệu số được sử dụng để thu thập thông tin về thế giới” và “đó là một phương pháp được sử dụng để mô tả và kiểm định các mối quan hệ, liên hệ nhân quả”. Phương pháp gắn với thu thập và xử lý dữ liệu dưới dạng số, để kiểm định mô hình và các giả thuyết khoa học được suy ra từ lý thuyết đã có b) Dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu sơ cấp là dữ liệu không có sẵn, bản thân nhà nghiên cứu phải đi thu thập dữ liệu cho phù hợp với vấn đề nghiên cứu đặt ra để kiểm định các mô hình và giả thuyết nghiên cứu Dữ liệu thứ cấp là dữ liệu có sẵn, do người khác thu thập, sử dụng cho mục đích nghiên cứu khác.
Dữ liệu thứ cấp có thể là dữ liệu chưa xử lý (dữ liệu thô) hoặc dữ liệu đã xử lý c) Phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên: Là phương pháp chọn mẫu mà các phần tử trong tổng thể không có khả năng ngang nhau để được chọn vào mẫu nghiên cứu. Việc chọn mẫu này hoàn toàn phụ 10 thuộc vào kinh nghiệm và sự hiểu biết của nhà nghiên cứu nên thường mang tính chủ quan Có 4 phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên, tuy nhiên, trong bài nghiên cứu, nhóm sử dụng chủ yếu phương pháp chọn mẫu thuận tiện và chọn mẫu quả cầu tuyết. Chọn mẫu thuận tiện: người điều tra lấy mẫu dựa trên sự tiện lợi hay khả năng tiếp cận đối tượng điều tra ở những nơi mà người điều tra có thể dễ dàng tiếp cận đối tượng Chọn mẫu quả cầu tuyết: Ban đầu nhà nghiên cứu tiếp cận một vài đối tượng và nhờ họ chia sẻ, giới thiệu cho nhiều người khác cùng tham gia phỏng vấn cho đến khi đạt được cỡ mẫu cần thiết.2 Khái niệm tự học Nguyễn Kỳ (1998) đã đưa ra quan điểm rằng tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình. Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp.
Hay tác giả Trần Phương (2005) cũng đề cao tính tự giác trong học. Ông cho rằng tự học chính là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân loại thành kiến thức của bản thân và rèn luyện cho bản thân kỹ năng thực hành những tri thức đó. Còn với tác giả Nguyễn Cảnh Toàn (1997) ông cho rằng tự học không chỉ là sự động não, suy nghĩ sử dụng năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích…) và có khi cả cơ bắp (khi sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất chính của chính bản thân người học (tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học). Vì vậy, tự học được coi là quá trình sử dụng cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó theo sở hữu của mình.
Từ các quan điểm của 3 tác giả kể trên, nhóm xin đưa ra khái niệm về tự học. Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, học với sự tự giác và tích cực ở mức độ cao, là 11 quá trình người học tự tìm ra ý nghĩa của việc học để làm chủ hoạt động học tập của mình. Bản chất của tự học là quá trình chủ thể người học cá nhân hóa việc học tự tìm ra tri thức nhằm thỏa mãn các nhu cầu học tập. Nhu cầu tự học phải xuất phát từ mong muốn làm phong phú sự hiểu biết của bản thân người học để hoàn thiện nhân cách của mình.