MỞ ĐẦU 1. LÍ DO HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI Công nghệ thông tin đã phát triển đáng kể trong những năm qua và đã tạo ra một phƣơng tiện truyền tải những hƣớng dẫn để học tập hay một phƣơng thức giáo dục mới. Thuật ngữ “e-learning” đƣợc hiểu với nhiều tên gọi nhƣ học tập trực tuyến, học qua mạng, hay đào tạo từ xa. Ƣu điểm của e-learning là tiết kiệm chi phí, tiết kiệm thời gian, học mọi lúc mọi nơi, uyển chuyển – linh động, tối ƣu, và hệ thống hoá.
Ở Việt Nam, theo số liệu từ báo Ngƣời Lao Động Online, đào tạo từ xa đƣợc triển khai từ năm 1993 và đã đƣợc áp dụng tại 20 trƣờng Đại học trên cả nƣớc nhƣ Viện Đại học Mở Hà Nội, Đại học Mở TPHCM, Đại học Sƣ phạm Hà Nội, Đại học Huế, Đại học Hà Nội, Đại học Kinh tế Quốc dân, Học viện Công nghệ Bƣu chính Viễn thông. với chỉ tiêu tuyển sinh khoảng 300. Theo quyết định ngày 04/07/2005 của Chính phủ về phê duyệt đề án phát triển giáo dục từ xa đề ra chỉ tiêu đến năm 2010 có ít nhất 20% sinh viên tham gia học tập theo phƣơng thức đào tạo từ xa, cụ thể tƣơng ứng với 300. Nhƣng đến tháng 10/2010, chỉ có khoảng 200.000 sinh viên theo học.
Tại Hội nghị Hiệp hội các trƣờng Đại học mở châu Á vừa đƣợc tổ chức tại Hà Nội cuối tháng 10/2010, Phó Thủ tƣớng Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh: “Với 86 triệu dân, trong đó có 45 triệu lao động nhƣng chỉ có 10 triệu lao động qua đào tạo thì con số 200.000 sinh viên theo học đào tạo từ xa là chƣa thể hài lòng”. Một vấn đề đƣợc đặt ra ở đây là tại sao đào tạo từ xa lại không thu hút? Theo ông Lê Văn Thanh, Viện trƣởng Viện Đại Học Mở Hà Nội, Viện Đại Học Mở Hà Nội có chỉ tiêu tuyển sinh hằng năm là 12.000 sinh viên cho chƣơng trình đào tạo từ xa, nhƣng chỉ có khoảng 9.000 tham gia ghi danh. Trong quá trình học, sinh viên bỏ học khoảng 50% tƣơng đƣơng 4. Số lƣợng sinh viên tốt nghiệp là ít, thấp nhất là 16% tƣơng đƣơng 1.440 sinh viên đƣợc nhận bằng tốt nghiệp.
Điều này cho thấy là e-learning kém hiệu quả hơn so với phƣơng pháp học 2 tập truyền thống. Vậy e-learning kém hơn phƣơng pháp học tập truyền thống ở điểm nào? Trƣờng Đại Học Bách Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh đã xây dựng hệ thống e- learning để hỗ trợ cho tất cả sinh viên của trƣờng; và đặc biệt là hệ thống e-learning cho chƣơng trình đại học đào tạo từ xa qua mạng ngành Công Nghệ Thông Tin với đợt tuyển sinh sớm nhất còn lƣu hành trên trang web của trƣờng là vào năm 2011. Tính đến năm 2013 thì trƣờng đã tổ chức đƣợc 6 lần tuyển sinh hệ đại học từ xa qua mạng với tổng chỉ tiêu tuyển sinh là 2750 sinh viên. Số liệu thống kê số lƣợng sinh viên trúng tuyển có phát hành trên trang web trƣờng nhƣ sau: trúng tuyển đợt 1 năm 2011 là 74 sinh viên; đợt 2 năm 2012 là 68 sinh viên; đợt 1 năm 2013 là 42 sinh viên.
Có một điểm đáng chú ý theo số liệu hiện có là số lƣợng sinh viên trúng tuyển ngày một giảm. Đây là tình trạng chungkhông chỉ xảy ra ở trƣờng Đại học Bách Khoa Tp.HCM mà còn ở các chƣơng trình đào tạo từ xa của các trƣờng khác. Tại sao chƣơng trình đào tạo từ xa không thu hút sinh viên? E-learning kém hơn phƣơng pháp đào tạo truyền thống ở điểm nào? Đó là hai câu hỏi và cũng là hai vấn đề đang tồn tại trong việc thực hiện các chƣơng trình đào tạo từ xa tại trƣờng Đại học Bách Khoa Tp. Để giải quyết hai vấn đề đó nhằm thu hút sinh viên cho chƣơng trình đào tạo từ xa và cải thiện chất lƣợng phƣơng pháp đào tạo từ xa hay e- learning nhƣ phƣơng pháp đào tạo truyền thống, thì phải quan tâm đến hai điểm quan trọng là thành quả học tập và chuyển giao tri thức.
Xuất phát từ thực tiễn của hiện trạng e-learning của trƣờng, em đã quyết định lựa chọn đề tài: “Khảo sát những yếu tố ảnh hƣởng đến thành quả học tập và chuyển giao tri thức qua e-learning của hệ thống e-learning ở trƣờng Đại Học Bách Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh” Để giải quyết hai vấn đề trên, luận văn này nghiên cứu những nhân tố ảnh hƣởng đến thành quả học tập và chuyển giao tri thức qua e-learning. Cụ thể, nghiên cứu này tìm cách xác định mức độ ảnh hƣởng của năng lực máy tính tự thân, tính dễ 3 sử dụng, nhận thức tính hữu ích, sự tƣơng tác, và sự hiện diện tính xã hội lên thành quả học tập và chuyển giao tri thức qua e-learning. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Đề tài nghiên cứu đƣợc thực hiện nhằm mục đích: - Xác định những yếu tố ảnh hƣởng đến thành quả học tập và chuyển giao tri thức qua e-learning của hệ thống e-learning ở trƣờng Đại Học Bách Khoa Tp. - Đo lƣờng mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố lên thành quả học tập và chuyển giao tri thức qua e-learning của hệ thống e-learning ở trƣờng Đại Học Bách Khoa Tp.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao thành quả học tập và chuyển giao tri thức qua e-learning của hệ thống e-learning ở trƣờng Đại Học Bách Khoa Tp. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tƣợng nghiên cứu là: - Sinh viên hệ Đào tạo từ xa qua mạng, N Thông Tin ; - Sinh viên hệ Đại học, ngành Quản Trị Kinh Doanh, khoa Quản Lý Công Nghiệp; - H C của trƣờng Đại Học Bách Khoa Tp. đi ba loại - hệ Đại học và - learning. BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU: TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI E- LEARNING Ở ĐẠI HỌC BÁCH KHOA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Nhƣ đã trình bày ở phần Lý do hình thành đề tài, trƣờng Đại Học Bách Khoa Tp.HCM đã xây dựng một hệ thống e-learning hỗ trợ học tập cho tất cả sinh viên bao gồm hệ chính quy, hệ tại chức – địa phƣơng, cao học, hệ chƣơng trình tiên tiến – quốc tế, dự thính, văn bằng II, không chính quy… Hệ thống đƣợc xây dựng dựa trên nền tảng mở Moodle.
Moodle (viết tắt của Modular Object-Oriented Dynamic Learning Environment) đƣợc sáng lập năm 1999 bởi Martin Dougiamas, ngƣời tiếp tục điều hành và phát triển chính của dự án.Moodle phát triển dựa trên PHP và nổi bật là thiết kế hƣớng tới giáo dục, dành cho những ngƣời làm trong lĩnh vực giáo dục. Mỗi sinh viên của trƣờng đều có một tài khoản e-learning gồm tên tài khoản là mã số sinh viên và mật khẩu là mặc định do nhà trƣờng cung cấp (sinh viên có thể sửa đổi mật khẩu trong hệ thống e-learning). Chức năng của hệ thống e-learning bao gồm hỏi và đáp, chia sẻ tài liệu học tập, nộp bài tập, thông báo, nhắc nhở, quản lý khóa học… Bên cạnh đó, trƣờng Đại Học Bách Khoa TP.HCM sử dụng hệ thống hỗ trợ học tập trực tuyến Sakai nhằm phục vụ cho việc học tập của các học viên. Theo hƣớng dẫn sử dụng hệ thống Sakai, mỗi học viên sẽ thấy đƣợc các trang tƣơng ứng với các môn học mà học viên đang theo học.
Trong mỗi trang, sẽ có những chức năng chính phục vụ theo yêu cầu môn học mà học viên có thể sử dụng. Hệ thống Sakai cung cấp một số công cụ hỗ trợ học tập nhƣ sau: Announcements: công cụ này có chức năng xem các thông báo của môn học. Học viên có thể tùy biến theo số thông báo hiển thị, sắp xếp các thông báo theo tên, sắp xếp các thông báo theo ngƣời gửi, sắp xếp thông báo theo ngày tháng… Assignments: Công cụ này dùng để xem bài tập lớn. Giảng viên sẽ ra đề bài tập lớn lên đây.
Thời gian làm bài tập lớn khoảng hai đến ba tuần. Khi đến hạn, học viên sẽ nộp bài qua công cụ này. Sau khi hết hạn, Assignments sẽ tự động đóng lại và học viên sẽ không thể nộp bài đƣợc nữa. Ngoài ra, sau khi chấm xong 5 Assignment, học viên sẽ lại vào công cụ này để xem kết quả bài làm của mình.
Giảng viên sẽ trả kết quả về cho từng ngƣời và các học viên không thể xem kết quả của nhau. Gradebook: Công cụ này dùng để xem điểm của môn học. Điểm của môn học sẽ đƣợc giảng viên gửi đến cho từng học viên thông qua công cụ Gradebook. Mỗi họcviên chỉ đƣợc xem điểm của riêng mình, không thể xem đƣợc điểm của ngƣời khác.
Site info: Mục đích chính của tool này không phải dành cho học viên. Tuy nhiên, học viên có thể sử dụng tool này để trao đổi với ngƣời quản lý site môn học. Discussion and Private Messages: công cụ này là một forum để các học viên có thể trao đổi về môn học. Tùy theo ngƣời quản lý, các forum sẽ đƣợc chia thành nhiều chủ đề và học viên nên chọn chủ để phù hợp với nội dung cần trao đổi trƣớc khi gửi một bài nào đó.
Modules: Giảng viên sẽ sử dụng công cụ này để tải lên (upload) những slides bài giảng, bài tập hoặc các tài nguyên cần thiết khác cho học viên. Chỉ có học viên nào đƣợc phép truy cập vào site này mới có quyền download tài liệu. Scorm Player: Phần mềm để chuyển gói bài giảng ra chuẩn Scorm sẽ đƣợc hƣớng dẫn chi tiết và tải lên SAKAI trong quá trình học. NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN TỒN TẠI Theo số liệu từ phòng quản trị mạng, mặc dù hệ thống e-learning của trƣờng đã hoạt động trong một thời gian dài nhƣng vẫn còn khoảng 50-60% giảng viên không sử dụng hệ thống e-learning.
Điều này có thể dẫn đến việc sử dụng hệ thống e- learning của sinh viên cũng rơi vào tình trạng kém. Theo số liệu từ quản trị mạng Sakai, số lƣợng sinh viên có tên trong danh sách khóa học và số lƣợng sinh viên tham gia thi cuối kỳ chênh lệch lớn. Đa số các lớp có khoảng 60-70% sinh viên không tham gia kỳ thi cuối kỳ và có lớp khoảng 90% sinh viên không tham gia kỳ thi cuối kỳ. Những vấn đề trên cho thấy rằng cả 2 hệ thống e-learning của trƣờng đang có những vấn đề cấp thiết cần phải tập trung nghiên cứu.
Những vấn đề trên làm ảnh 6 hƣởng đến thành quả học tập qua e-learning của sinh viên, từ đó ảnh hƣởng đến việc chuyển giao tri thức qua e-learning. Vì vậy luận văn này tập trung nghiên cứu để tìm ra những yếu tố ảnh hƣởng đến thành quả học tập và chuyển giao tri thức qua e-learning.