mở đầu quá trình xâm lược nước ta. Kể từ đó, nhân dân Việt Nam phải sống dưới ách thống trì của thực dân Pháp suốt gần một thế kỉ. Ngay từ khi Pháp xâm lược, nhân dân ta đã anh dũng đứng lên chống giặc, nhưng đều thất bại. Đầu thế kỉ 11 Luan van XX, với lòng yêu nước, thương dân, căm thù giặc sâu sắc, Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước.
Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã lãnh đạo nhân dân làm nên thắng lợi Cách mạng Tháng Tám 1945 giành độc lập, tự do cho dân tộc. Cách mạng mùa thu năm 1945 đã chấm dứt hơn 80 năm chống thực dân Pháp xâm lược và đô hộ, mở ra một trang sử mới cho nước nhà. Nhìn lại trang sử đau thương nhưng vẻ vang đó để chúng ta nhớ lại những mốc thời gian, những sự kiện lịch sử tiêu biểu từ năm 1858 đến năm 1945 là nhiệm vụ của bài học này. Tiếp đó, GV nêu câu hỏi để HS suy nghĩ và tập trung vào giải quyết vấn đề: + Các mốc lịch sử quan trọng từ năm 1858 đến năm 1945? + Những sự kiện lịch sử và những nhân vật tiêu biểu nhất từ năm 1858 đến năm 1945? + Ý nghĩa của những sự kiện lịch sử tiêu biểu? - Theo từng nội dung đó, GV hướng dẫn HS làm việc, giải quyết các nhiệm vụ bài học: + Về nội dung thứ nhất, GV hướng dẫn HS kẻ trục thời gian từ 1858 đến 1945, sau đó yêu cầu học sinh tìm và điền các mốc thời gian quan trọng (cụ thể là các năm 1858, 1911, 1930, 1945) + Về nội dung thứ hai, GV có thể chia lớp thành các nhóm, yêu cầu HS tìm các sự kiện, nhân vật lịch sử tiêu biểu của thời kì này.
Điều này có tác dụng lôi cuốn các em vào các công việc và kết quả làm việc của các nhóm sẽ bổ cung được nội dung đầy đủ. Sau khi HS trình bày kết quả, GV tổng hợp ý kiến và chốt lại những sự kiện sau: Năm 1858: Thực dân Pháp bắt đầu xâm lược nước ta. Nửa cuối thế kỉ XIX: Phong trào chống Pháp của Trương Định và phong trào Cần Vương. 12 Luan van Đầu thế kỉ XX: Phong trào Đông du của Phan Bội Châu.
Năm 1911: Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Ngày 3 tháng 2 năm 1930: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Ngày 19 tháng 8 năm 1945: Khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội, Cách mạng tháng Tám thành công. Ngày 2 tháng 9 năm 1945: Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập.
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập. - Về nội dung thứ ba, GV định hướng cho HS thảo luận ý nghĩa của hai sự kiện: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và Cách mạng tháng Tám. - Cuối cùng, cho HS làm bài tập, trả lời các câu hỏi 1 và 3 trong SGK để hoàn thiện bài học. Tóm lại, mỗi loại bài có những cách dạy riêng, GV phải biết lựa chọn cho phù hợp với nội dung của bài và phải biết kết hợp với nhiều phương pháp khác trong một giờ dạy.
Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các phương pháp là một trong những yếu tố mang lại hiệu quả cao của giờ học. Đặc điểm về cách trình bày sách giáo khoa lịch sử lớp 4, 5 a. Về thiết kế sách giáo khoa + Khổ sách: 17cm x 24cm + Cỡ chữ: 14 Có sắp xếp hợp lí giữa các phần. Bố trí tranh ảnh, lược đồ gọn, cân xứng, phù hợp với nội dung bài học.
Về hình thức trình bày - Kênh chữ đóng vai trò chủ yếu trong việc cung cấp các thông tin cần thiết và việc hướng dẫn các hoạt động học tập. 13 Luan van - Kênh hình bao gồm tranh ảnh, lược đồ,. Không đơn thuần chỉ là nhiệm vụ minh họa mà còn đóng vai trò quan trọng như là nguồn thông tin chính của một số bài học. Đặc điểm trình bày một số bài học trong sách giáo khoa Lịch sử lớp 4,5 Mỗi bài học trong Sách giáo khoa Lịch sử gồm 5 phần: - Tên bài học Đầu tiên là ở mỗi bài học là tên bài được viết chữa in hoa, to, rõ ràng.
- Phần cung cấp thông tin Bao gồm hệ thống kênh hình và kênh chữ + Phần câu hỏi hoặc yêu cầu các hoạt động học tập sau phần cung cấp thông tin Sau phần cung cấp kiến thức sẽ có những câu hỏi để học sinh tìm hiểu, phân tích, tổng hợp thông tin. + Phần cung cấp kiến thức trọng tâm của bài Đây là phần tóm tắt các kiến thức trọng tâm của bài học bằng những câu văn, đoạn văn ngắn gọn, đầy đủ nội dung quan trọng, được đóng khung, là phần học sinh cần nắm bắt và ghi nhớ. + Phần bài tập, câu hỏi Được trình bày dưới dạng câu hỏi tự luận hoặc bài tập trắc nghiệm đặt ở cuối bài học. Nó giúp học sinh tự kiểm tra, đánh giá mức độ hiểu bài của mình.
Và thông qua câu trả lời của học sinh, giáo viên sẽ thu được thông tin tín hiệu ngược từ học sinh, từ đó kịp thời sửa chữa, bổ sung kiến thức cho các em. Khái quát về loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công và tiến công trong môn lịch sử của học sinh lớp 4, 5. Mục tiêu dạy học loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công và tiến công trong môn lịch sử của học sinh lớp 4, 5 Học xong loại bài này, HS biết và hiểu: 14 Luan van - Thời gian, địa điểm diễn ra các cuộc khời nghĩa, chiến thắng, chiến dịch… - Những nét chính về diễn biến và ý nghĩa của các thắng lợi đó. HS có khả năng: tường thuật, miêu tả những nét chính của cuộc khởi nghĩa hay chiến dịch đã học.
HS có thái độ biết ơn những người đã làm nên những sự kiện vĩ đại của lịch sử dân tộc và có ý thức bảo vệ những thành quả của cách mạng.1 Mục đích chung của dạy học loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công và tiến công trong môn lịch sử của học sinh lớp 4, 5 Đối với loại bài này không chỉ giúp các em nắm nội dung của bài mà hướng dẫn cho các em có kỹ năng tường thuật, miêu tả những nét chính của cuộc khởi nghĩa hay chiến dịch đã học. Từ đó giúp các em có thái độ biết ơn những người đã làm nên những sự kiện vĩ đại của lịch sử dân tộc và có ý thức bảo vệ những thành quả của cách mạng. Ví dụ: Qua bài học “Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ” giúp các em nắm được nội dung chính của bài, hiểu được ý nghĩa mà bài học mang lại như: Đây là trận tiêu diệt lớn nhất của Quân dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, đánh bại “kế hoạch Nava” của thực dân Pháp, tạo điều kiện đi đến quyết định ký hiệp định Giơnevơ (21/7/1954). Kết thúc 9 năm cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam, góp phần cổ vũ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới, đây cũng là thắng lợi chung của các dân tộc nhỏ yếu trên thế giới trong cuộc đấu tranh giành độc lập tự do.
Chiến thắng này cũng chứng minh chân lý của thời đại “Một dân tộc dù nhỏ bé, nếu biết quyết tâm, đoàn kết chiến đấu và có một đường lối đúng thì có thể đánh bại được bất cứ tên đế quốc sừng sỏ nào”. Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, một đất nước nhỏ bé đã đánh bại một đất nước thực dân hùng mạnh. Đó là một thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt 15 Luan van Nam, đồng thời cũng là thắng lợi của các lực lượng hòa bình, dân chủ trên toàn thế giới. Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ đã bảo vệ và phát triển thành quả của cách mạnh tháng Tám, giải phóng hoàn toàn Miền Bắc, chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp trên đất nước ta, đưa cách mạng Việt Nam bước sang một giai đoạn mới.
Miền Bắc tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa và Miền Nam tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, hoàn thành độc lập dân tộc, dân chủ và thống nhất đất nước. Chiến thắng cũng đã giúp các em biết ơn những thành quả Cách mạng, các em biết quý trọng những vị anh hùng đã hi sinh mình vì độc lập, hạnh phúc của đất nước, từ đó các em biết trân trọng, giữ gìn và góp phần phát triển đất nước. Nội dung của loại bài khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công và tiến công trong lịch sử tiểu học của học sinh lớp 4, 5. - Đối với lớp 4 STT TÊN BÀI TRANG 1 Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (Năm 40) 19 Chiến thắng Bạch Đằng do Ngô Quyền lãnh đạo (Năm 2 21 938) Cuộc kháng chiến chống quân Tống chống xâm lược lần 3 27 thứ nhất (Năm 981) Cuộc kháng chiến chống quân Tống chống xâm lược lần 4 34 thứ hai (1075 – 1077) 5 Cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông – Nguyên.
40 6 Chiến thắng Chi Lăng 44 7 Nghĩa quân Tây Sơn tiến ra Thăng Long (Năm 1786) 59 8 Quang Trung đại phá quân Thanh (Năm 1789) 60 16 Luan van - Đối với lớp 5 Stt Tên bài Trang 1 Cuộc phản công ở kinh thành Huế 8 2 Xô viết Nghệ - Tĩnh. 17 3 Thu – Đông 1947; Việt Bắc mồ chôn giắc Pháp. 30 4 Chiến thắng Biên giới thu đông 1950 32 5 Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. 37 6 Sấm sét đêm giao thừa.
49 7 Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không. 51 8 Tiến vào Dinh độc Lập 55 1. Đặc điểm của học sinh tiểu học 1. Đặc điểm về tâm sinh lí HS Tiểu học đang trong thời kì hoàn thiện phát triển các cơ quan trong cơ thể.
Khả năng điều khiển các hoạt động tâm lí của bản thân các em còn thấp như: không ngồi lâu, khả năng tập trung chú ý thấp. Đa số các em đều thích phương tiện trực quan sinh động, hấp dẫn, nhiều hình dạng, màu sắc đẹp mắt. Các em mang tính cách hiếu động, thích bắt chước hành vi, cử chỉ, lời nói của người lớn, của các nhân vật trong phim… Và có tính ham học hỏi, luôn tò mò, thắc mắc về những sự vật, hiện tượng trong cuộc sống, luôn đặt câu hỏi: vì sao, tại sao? 1. Đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học a.
Đặc điểm tri giác Tri giác của HS Tiểu học nói chung và HS lớp 4, 5 nói riêng thường mang tính tổng thể, ít đi sâu vào chi tiết và mang tính không chủ định.