Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÁP ỨNG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Các nghiên cứu trên thế giới không tách biệt nghiên cứu quản lý HĐTH mà đây là hệ quả gián tiếp của việc quản lý QTDH, quản lý đào tạo nhưng trong đó đề cập nhiều đến yếu tố quản lý người dạy và tạo điều kiện thuận lợi để phát huy tính tích cực tự học của người học. Có thể điểm qua một số nghiên cứu sau: Tác giả John E.
Kerrigan và Jeff S. Tác giả Martyn Sloman (1994), chú ý tới xác định nhu cầu trước khi lập kế hoạch, xây dựng chương trình đào tạo và trách nhiệm của những nhà quản lý cũng như các chuyên gia trong công tác đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực, phát triển năng lực và tính tích cực của người học. De Cenzo-Stephen P.Sanyal, Micheala Martin, Susan D’Antoni chú ý tới quản lý tài chính, quản lý cán bộ giảng dạy và quản lý diện tích sử dụng trong đào tạo [14]. Từ khi đào tạo theo HTTC trở nên phổ biến ở các nước phát triển, đào tạo và quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ cũng được nghiên cứu khá đầy đủ.
Đối với các nước đang phát triển, tác giả C. Janmes quann ĐH Quốc gia Washington với tài liệu “The Academic Credit sytem” [14]; tác giả Heffeman James, với tài liệu “The Creadibility of the Credit Hour: The History, Use and Shortcomings of the Credits Sytem”, đã cho rằng khi triển khai đào tạo theo hệ thống tín chỉ, các nước đang phát triển cần xem xét các yếu tố để xây dựng những kế hoạch thực hiện riêng gắn với điều kiện, hoàn cảnh và văn hoá; các thành viên có liên quan trực tiếp đến quá trình 5 đào tạo, sau đó là sự phù hợp các yêu cầu đối với các thành tố của quá trình đào tạo (chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học; đội ngũ giảng viên; kiểm tra - đánh giá. Ở Việt Nam Hoạt động tự học chỉ thực sự được chú ý và quan tâm dưới nền giáo dục XHCN. Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam là tấm gương sáng ngời về ý chí quyết tâm trong học tập và rèn luyện.
Bằng con đường tự học, Người đã tiếp thu được chủ nghĩa Mác - Lênin và vận dụng để lãnh đạo cách mạng Việt Nam thành công trong công cuộc đấu tranh giải phóng, giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước. Bác đã động viên toàn dân: “Phải tự nguyện, tự giác xem công việc học tập là nhiệm vụ của người cách mạng, phải cố gắng hoàn thành cho được do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập”. Người còn chỉ rõ: “Về việc học phải lấy tự học làm cốt”. [9] Tư tưởng giáo dục của chủ tịch Hồ Chí Minh được Đảng, Nhà nước vận dụng và đề ra trong các nghị quyết Đảng.
Tại hội nghị lần thứ II BCH Trung ương Đảng khóa VIII đã khẳng định: “Đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu của người học”. [5] Trong điều kiện và bối cảnh quản lý giáo dục nói chung và giáo dục đại học ở Việt Nam nói riêng chưa có nghiên cứu cụ thể được công bố về quản lý hoạt động tự học của sinh viên, nhưng quản lý các yếu tố của quá trình tự học đã được một số tác giả nghiên cứu theo góc độ quản lý hoạt động học tập của sinh viên. Tác giả Ngô Doãn Đãi đã đề cập tới vấn đề “Phương pháp học tập và việc quản lý học tập của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ”. Tác giả cho rằng phương pháp học tập của SV phụ thuộc vào quan điểm của người thầy đối với người học như những đối tượng đào tạo.
Ông cho rằng có ba yếu tố chính để quản lý học tập của SV: (1) Đề cương môn học của thầy; (2) Đánh giá thường xuyên trong quá trình đào tạo và thay đổi nội dung thi, kiểm tra và (3) Cách đánh giá kết quả môn học. Một số góp ý rất thiết thực để quản lý HĐHT của SV đó là: Không nên QL việc học tập của SV bằng các biện pháp kiểm tra hành chính hoặc công tác tư 6 tưởng; Nên nghiên cứu kinh nghiệm của các nước phát triển, tổ chức trao đổi rộng rãi trong đội ngũ CBQL, cán bộ giảng dạy để có những nhận thức mới, từ đó có ý tưởng mới; Khi áp dụng kinh nghiệm của các nước cần tránh suy nghĩ máy móc mà phải sáng tạo, tìm ra những giải pháp phù hợp với điều kiện của Việt Nam [2, tr. Tác giả Đặng Xuân Hải với nghiên cứu “Về tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của sinh viên và giảng viên trong phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ”. Tác giả rất quan tâm đến việc trả lời câu hỏi: khi chuyển đổi phương thức đào tạo sang học chế tín chỉ, đó là sẽ quản lý SV như thế nào và đánh giá lao động đối với GV như thế nào? Điều này phụ thuộc vào quan điểm về tự chủ và tự chịu trách nhiệm của người học và người dạy trong học chế tín chỉ.
Với sự đánh giá cụ thể đối với khái niệm tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong trường đại học, các giải pháp điều kiện được nêu ra để có thể thực hiện được vấn đề trên [7]. Một số công trình nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này như sau: Tác giả Nguyễn Mai Hương nghiên cứu “Quản lý quá trình dạy và học theo học chế tín chỉ trong các trường đại học ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay". Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung nghiên cứu công tác QL trường đại học theo HCTC và công tác QL dạy học trong nhà trường. Theo tác giả, trong quá trình QL dạy học, cần phải: Chú trọng mục tiêu cá nhân hóa hoạt động học tập của SV; tạo thuận lợi cho SV chủ động tích lũy kiến thức trong quá trình đào tạo do chương trình được cấu trúc mềm dẻo, linh hoạt; triển khai phương thức tổ chức dạy học thông qua đề cương chi tiết môn học được phê duyệt; tiến hành đánh giá kết quả học tập thường xuyên, theo tiến trình; tổng hợp những bất cập về nhận thức, điều kiện triển khai, lộ trình thực hiện, cách thức quản lý đang cản trở tiến trình chuyển đổi sang HTTC trong các trường đại học ở Việt Nam giai đoạn hiện nay.
Tác giả cũng đã đề xuất những giải pháp quản lý QTDH thích ứng với đặc điểm của HTTC, phù hợp với điều kiện cụ thể của các trường đại học Việt Nam, góp phần tháo gỡ các rào cản, tạo động lực cho việc triển khai thành công HTTC [12]. Tác giả Phạm Thị Thanh Hải đã nghiên cứu vấn đề “Quản lý hoạt động học tập của sinh viên theo hệ thống tín chỉ ở trường đại học Việt Nam” [8]. Tác giả chỉ ra sự chưa phù hợp trong quản lý hoạt động học tập của SV khi áp dụng đào tạo theo hệ thống tín chỉ, đặc biệt là quản lý sinh viên trong giờ tự học. 7 Công trình nghiên cứu của tác giả đã phân tích được sự cần thiết của việc áp dụng phương thức đào tạo theo HTTC ở trường ĐH Việt Nam, trong bối cảnh hiện nay; bổ sung và hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quá trình hình thành và áp dụng phương thức đào tạo theo HTTC ở các trường ĐH Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu của tác giả góp phần hoàn thiện công tác quản lý HĐHT của SV trong đào tạo theo HTTC ở các trường ĐH Việt Nam. Tác giả cũng đã đề xuất các giải pháp để quản lý hiệu quả HĐHT của SV trong đào tạo theo HTTC như: Nâng cao nhận thức của đội ngũ CBQL, GV, SV về sự cần thiết phải quản lý HĐHT của SV trong đào tạo theo HTTC; xây dựng bộ máy và hệ thống quản lý HĐHT của SV; hoàn thiện quy chế hướng dẫn HĐHT của SV trong đào tạo theo HTTC. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi rút ra một số đánh giá sơ bộ như sau: 1) Quản lý HĐHT của SV nói chung và nội dung QL HĐTH là một trong những công tác trọng tâm của trường ĐH, CĐ. Đào tạo theo niên chế hay đào tạo theo HTTC thì SV vẫn là đối tượng của hoạt động giảng dạy.
2) Về đối tượng, trong đào tạo theo HTTC, SV đóng vai trò trung tâm và tự họ chuyển đổi từ đối tượng thụ động sang đối tượng chủ động. SV chủ động tự thiết kết lộ trình tích lũy kiến thức, lựa chọn chương trình học, cách thức học phù hợp với chính mình. Vì vậy, quan điểm SV là nhân vật trung tâm trong nhà trường càng được khẳng định. 3) Công tác quản lý HĐHT của SV được thực hiện theo các hoạt động thường xuyên, cố định theo kế hoạch như kiểm tra nề nếp sinh hoạt, học tập, điểm danh, kiểm tra kiến thức theo bài định kỳ.
Nhà trường linh hoạt trong việc giảng dạy, SV chủ động học tập theo tiến độ cá nhân, SV được lựa chọn môn học phù hợp với năng lực và sở trường. Mỗi SV có kế hoạch học tập và phải chủ động tự học sao cho đạt được mục tiêu học tập cá nhân. SV không chỉ thay đổi phương pháp học tập mà cách lập kế hoạch học tập, thời gian học tập, kỹ năng tự học, các sinh hoạt đều phải thay đổi. 4) Nhiều trường còn lúng túng khi xử lý những vấn đề phát sinh trong công tác quản lý SV nói chung, công tác quản lý HĐHT, hoạt động tự học của SV nói riêng.
Từ kết quả nghiên cứu tổng quan, chúng tôi tập trung giải quyết các vấn đề cốt lõi sau đây: 8 1) Nghiên cứu giải quyết những vấn đề lý luận về Quản lý hoạt động tự học của sinh viên đại học đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ. 2) Nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngoại ngữ - Trường Đại học Hùng Vương đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức với những bản chất khác nhau, là hoạt động đặc biệt, là yếu tố cần thiết trong đời sống xã hội.
Loài người đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều hình thái xã hội khác nhau nên các hình thức quản lý cũng khác nhau. Về khái niệm quản lý có nhiều cách định nghĩa khác nhau [19, tr.