Chương 1. TỔNG QUAN VỀ HỆ TƯ VẤN CHO HỌC SINH CHỌN MÔN THI 1. TỔNG QUAN VỀ NHU CẦU HỆ TƯ VẤN CHỌN MÔN THI 1. Sự cần thiết của hệ tư vấn Trước năm 2016, Bộ GD&ĐT đã công bố phương án thi tốt nghiệp đối với học sinh THPT gồm ít nhất 4 môn: 3 môn bắt buộc Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ và 1 môn tự chọn trong các môn Vật lý, Hóa học, Sinh học, Lịch sử, Địa lý [1].
Trên cơ sở này, các trường THPT tiến hành cho học sinh đăng ký chọn môn theo năng lực của mình. Vào ngày 28/9/2016 Bộ GD&ĐT công bố phương án thi THPT Quốc gia, đó là học sinh THPT thi 4 bài thi gồm: 3 bài thi bắt buộc Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ và 1 bài thi tự chọn: bài thi Khoa học Tự nhiên hoặc bài thi Khoa học Xã hội. Với bài thi Ngoại ngữ, học sinh có thể chọn thi một trong các thứ tiếng: Anh, Nga, Pháp, Trung, Đức, Nhật. Học sinh có thể dự thi cả 5 bài thi để sử dụng kết quả xét tuyển vào ĐH, CĐ [2].
Với mô hình thi này, bắt đầu năm học 2016 – 2017, các trường THPT gặp rất nhiều khó khăn như nhà trường phải sắp xếp và chia lại lớp cho học sinh lớp 12, phân công lại chuyên môn, xếp lại thời khóa biểu… Tuy nhiên, tất cả việc sắp xếp lại của nhà trường đều dựa trên mong muốn của PH và HS, tức là chỉ dựa trên ý muốn chủ quan. Phương án này mặc dù thỏa mãn được nguyện vọng của PH và HS nhưng có thể chưa phát huy hết năng lực của học sinh vì việc đăng ký chọn môn thi phần lớn dựa vào ý muốn chủ quan hoặc theo ý kiến của số đông hoặc theo nguyện vọng của PH… Việc lựa chọn này không theo sự đánh giá năng lực của bản thân cũng như không dựa trên một phương pháp phân tích có cơ sở khoa học nhất định. Vì vậy, đề tài luận văn xây dựng một hệ thống tư vấn hỗ trợ cho HS và PH chọn lựa tổ hợp môn theo đúng năng lực học tập. Các nghiên cứu liên quan Đối với hệ thống tư vấn cho học sinh hoặc phân loại học sinh theo năng lực, nhiều nhóm nghiên cứu đã đưa ra các giải pháp khác nhau cho từng bài toán cụ thể nhằm tư vấn cho học sinh, cho nhà trường chọn lựa những định hướng để quyết định trong những trường hợp khác nhau như: sử dụng thuật toán K-means để gom cụm các học sinh theo năng lực (gồm 6 mức năng lực) dựa trên điểm số của các môn học [3], sử dụng kỹ thuật cây quyết định, Bayesian, mạng nơ-ron, kỹ thuật láng giềng, K-MEDIODS để phân lớp và gom cụm học sinh theo các thuộc tính về các mối tương quan giữa học sinh và giáo viên để phân chia học sinh vào các lớp học phù hợp [4], chia nhóm học sinh bằng thuật toán K-means dựa trên điểm trung bình của từng môn theo học kỳ để từ đó đưa ra các tư vấn phù hợp [5], phân loại học sinh dựa trên các thông tin cá nhân và nguyện vọng để từ đó tư vấn nghề nghiệp cho học sinh THPT bằng phương pháp phân cụm, phân cấp kết hợp với K-means [6], phân nhóm học sinh nhằm mở các lớp học phù hợp bằng kỹ thuật bảng đồ tự tổ chức SOM (Self-Organizing Map) và cấu trúc phân cụm phân cấp [7], sử dụng kỹ thuật học sâu kết hợp cây FP-Tree trên tiếp cận Adaboost để phân loại học sinh dựa trên điểm trung bình từng môn học theo học kỳ để từ đó định hướng cho học sinh nâng cao hiệu suất học tập [8], phân tích điểm số và đưa ra phương án học tập phù hợp bằng kỹ thuật phân cụm và phân lớp trên mạng SOM [9], nghiên cứu phương pháp học không giám sát để phân loại học sinh dựa trên kỹ thuật luật kết hợp và phân tích thành phần chính PCA (Principal component analysis) để giảm số chiều dữ liệutừ đó đánh giá hiệu suất học tập của học sinh [10], phân nhóm học sinh dựa trên mức độ học tập theo từng môn học bằng kỹ thuật SOM [11]… Oyelade và cộng sự (2010) đã tiếp cận thuật toán gom cụm K-means để dự báo hiệu suất học tập cho sinh viên.
Trong bài báo này, nhóm tác giả đã thực Trang 10 hiện phân nhóm các học sinh theo 6 mức độ học lực khác nhau (Excellent, Very Good, Good, Very Fair, Fair, Poor) để từ đó định hướng cho học sinh có kế hoạch học tập tiếp theo [3]. Với kết quả này, phương pháp chỉ tiếp cận thuật toán K-means nhằm phân nhóm các học sinh với số nhóm phải được phân hoạch từ trước, do đó nếu dữ liệu tăng trưởng thì việc phân hoạch phải thực hiện lại từ đầu và có thể tạo ra một kết quả khác. Khadir và cộng sự (2015) đã tiếp cận kỹ thuật phân cụm dựa trên bảng đồ tự tổ chức SOM nhằm phân tích hiệu suất học tập của học sinh để từ đó theo dõi định hướng các khóa học kế tiếp [9]. Quá trình phân cụm học sinh của phương pháp này được chọn lựa dựa trên việc gom cụm bộ dữ liệu để từ đó huấn luyện trọng số cho mô hình SOM.
Tuy nhiên, việc phân cụm dữ liệu chỉ dựa vào việc gom nhóm các đặc tính tương tự của học sinh, do đó cần phải có một thuật toán gom cụm phù hợp cho dữ liệu tăng trưởng. Fan và cộng sự (2017) sử dụng phương pháp phân cụm K-means để phân nhóm các học sinh dựa trên điểm trung bình của các môn học theo từng học kỳ [5]. Đối với phương pháp của nhóm tác giả này, các tâm cụm khởi tạo cho thuật toán K-means được chọn bằng cách chia theo từng nhóm dữ liệu, từ đó các nhóm học sinh được phân loại. Việc áp dụng thuật toán K-means cho bộ dữ liệu điểm số của học sinh chưa thể bổ sung các phần tử dữ liệu mới, hơn nữa với mỗi phần tử dữ liệu mới này chưa thể phân loại và phân lớp các học sinh.
Lee và cộng sự (2019) kết hợp mạng SOM và phương pháp phân cụm phân cấp để thực hiện gom cụm học sinh theo năng lực và phân loại học sinh trên mạng SOM. Theo kết quả thực nghiệm của bài báo cho thấy việc đánh giá và phân loại học sinh có độ chính xác cao và có thể theo dõi học sinh theo dữ liệu của dòng thời gian cho mỗi học sinh [7]. Purbasari và cộng sự (2020) xây dựng một mạng SOM nhằm huấn luyện các trọng số để từ đó phân loại học sinh qua các giá trị mức độ điểm trung bình Trang 11 theo từng môn học [11]. Trong công trình này, nhóm tác giả đưa ra các nhóm phân loại dựa vào véc-tơ chiến thắng trên mạng SOM, chưa kết hợp các phần tử láng giềng để phân loại học sinh cũng như chưa đưa ra định hướng cho học sinh về việc nâng cao hiệu suất cũng như kế hoạch học tập tiếp theo.
Theo các công trình khảo sát trên, việc phân loại học sinh kết hợp giữa phân cụm K-means và mạng SOM là một phương pháp khả thi và là một chủ đề nghiên cứu thời sự. Việc đánh giá và phân loại này giúp cho quá trình phân loại không mang tính chủ quan của con người. Hơn nữa, với mỗi bộ dữ liệu mới của mỗi học sinh, phương pháp này có thể dự báo về năng lực của học sinh, phân nhóm học sinh để từ đó đưa ra những tư vấn phù hợp. Trên cơ sở này, nội dung luận văn thực hiện xây dựng một hệ tư vấn chọn lựa cho học sinh trên cơ sở dữ liệu quá khứ và dữ liệu huấn luyện để phân loại dự báo và tư vấn cho học sinh.
Dữ liệu huấn luyện của học sinh được sưu tập theo năng lực điểm số và phân cụm dựa trên phương pháp K-means để từ đó làm đầu vào cho các nhóm phần tử láng giềng của mạng SOM. Trên cơ sở các phân cụm này, mạng SOM được huấn luyện các véc-tơ trọng số dựa trên bộ dữ liệu mẫu bằng cách tinh chỉnh trọng số theo phân lớp của cụm đầu ra. Sau quá trình huấn luyện, mô hình phân loại là các véc-tơ trọng số nhằm phân loại một học sinh đầu vào bất kỳ. Sau khi phân loại dựa trên véc-tơ chiến thắng, các phần tử láng giềng trong mạng SOM được trích xuất để làm cơ sở phân lớp bằng phương pháp láng giềng gần nhất k-NN.
Đối với luận văn này, dữ liệu được thống kê từ các nguồn học sinh khác nhau tại các trường THPT khác nhau để từ đó xây dựng mô hình phân loại trên mạng SOM kết hợp với k-NN. Với việc phân loại này, học sinh được hỗ trợ trong việc chọn lựa các tổ hợp môn trong kỳ thi tốt nghiệp THPT Quốc gia. Ngoài ra, hệ thống này là sự kết hợp của việc cải tiến phương pháp K-means và phương pháp phân nhóm đối tượng bán giám sát theo SOM và k-NN. Cơ sở lý thuyết liên quan đến luận văn 1.
Phương pháp học giám sát Học có giám sát (Supervised learning)là một kỹ thuật học máy nhằm tạo ra mô hình dự báo (có thể sử dụng các phương pháp phân lớp, hồi qui) từ bộ dữ liệu huấn luyện (training data) bao gồm các cặp đối tượng đầu vào và nhãn đầu ra mong muốn.Từ đó, mô hình đã huấn luyện được sử dụng đểdự đoán nhãn lớp cho đối tượng đầu vào. Dữ liệu Phân lớp Kết quả huấn luyện Hồi qui dự đoán Hình 1. Mô hình học có giám sát Cho một tập hợp biến đầu vào 𝑋 = {𝑥1 , 𝑥2 , 𝑥3 , … , 𝑥𝑁 } và một tập nhãn tương ứng 𝑌 = {𝑦1 , 𝑦2 , 𝑦3 , … , 𝑦𝑁 }, trong đó 𝑥𝑖 , 𝑦𝑖 là các véc-tơ. Các cặp dữ liệu biết trước (𝑥𝑖 , 𝑦𝑖 ) ∈ 𝑋 × 𝑌 được gọi là tập dữ liệu huấn luyện (training data).
Trong tập dữ liệu này, chúng ta cần tạo ra một hàm số ánh xạ mỗi phần tử từ tập 𝑋 sang một phần tử (xấp xỉ) tương ứng của tập 𝑌. Thuật toán học có giám sát được chia thành hai loại chính: Phân loại (Classification): phân loại dữ liệu là một kỹ thuật dựa trên tập huấn luyện và những giá trị là nhãn của lớp trong một thuộc tính phân lớp và sử dụng nó trong việc phân lớp dữ liệu mới. Kỹ thuật phân lớp được tiến hành gồm hai bước: xây dựng mô hình và sử dụng mô hình. Xây dựng mô hình là mô tả một tập những lớp được định nghĩa trước, trong đó mỗi bộ được gán nhãn thuộc về một lớp được định nghĩa trước, được xác định bởi thuộc tính Trang 13 nhãn lớp, tập hợp của những bộ được sử dụng trong việc xây dựng mô hình được gọi là tập huấn luyện.