Chương 1 đã cung cấp cái nhìn tổng quan về hành vi tiêu dùng xanh và các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi này, đặc biệt tập trung vào đối tượng sinh viên Việt Nam. Qua việc tổng hợp và phân tích các nghiên cứu trong và ngoài nước, chương này đã làm rõ những yếu tố quan trọng tác động đến hành vi tiêu dùng xanh, bao gồm nhận thức về môi trường, sức khỏe, hiệu quả tiêu dùng xanh, quảng cáo xanh, chuẩn chủ quan và kiểm soát hành vi nhận thức, cùng với các yếu tố văn hoá, tâm lý và nhân khẩu học.” Tuy nhiên, chương này cũng chỉ ra một số khoảng trống nghiên cứu cần được tiếp tục khai thác. Cụ thể, việc lý giải lý thuyết tại sao người tiêu dùng quyết định lựa chọn 19 hoặc không lựa chọn sản phẩm xanh vẫn chưa được làm rõ đầy đủ. Đồng thời, các nghiên cứu tại Việt Nam còn mang tính riêng lẻ và chưa có cái nhìn toàn diện về hành vi tiêu dùng xanh của sinh viên trên cả nước.
Từ đây, nhóm tổng hợp các lý thuyết liên quan về hành vi tiêu dùng xanh của sinh viên và các yếu tố liên quan trong Chương 2. 20 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI TIÊU DÙNG XANH CỦA SINH VIÊN 2. Hành vi tiêu dùng xanh 2. Tiêu dùng xanh Thuật ngữ “tiêu dùng xanh: phổ biến từ những năm khi người tiêu dùng bắt đầu quan tâm vấn đề về khí hậu, môi trường và tiêu dùng có trách nhiệm hơn.
Theo NASPO (tạm dịch là “Hiệp hội Cán bộ Chuyên môn Mua sắm Nhà nước”), khái niệm tiêu dùng xanh có thể tiếp cận theo nhiều cách khác nhau như: có trách nhiệm tiêu dùng sinh thái, tiêu dùng mang tính chất bền vững. Theo Haiquan Chen và cộng sự (2016): “tiêu dùng xanh đề cập đến trách nhiệm của người tiêu dùng về giải quyết vấn đề môi trường thông qua các hành vi đóng góp bảo vệ môi trường trong lĩnh vực cá nhân và công cộng”. Mingli Li cho rằng: “Tiêu dùng xanh được hình thành dựa trên việc bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng và bảo tồn tài nguyên mà vẫn có những tác động phù hợp với sức khỏe con người và vấn đề bảo vệ môi trường, cốt lõi của tiêu dùng xanh là tiêu dùng bền vững”. Phan Thị Lệ Thúy (2023) cũng đã đưa ra quan điểm tiêu dùng xanh được định nghĩa như một phần của tiêu dùng bền vững, đó là việc người tiêu dùng mua và sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường, có ảnh hưởng tích cực đến hệ sinh thái và sức khỏe con người.
Việc tiêu dùng xanh không có nghĩa là sẽ tiêu dùng ít đi để giảm thiểu rác thải mà nó là tiêu dùng hiệu quả hơn, tốt hơn và tiết kiệm năng lượng hơn. Hành vi tiêu dùng xanh “Hành vi tiêu dùng xanh là một hệ thống khái niệm đa chiều, có thể hiểu là các hành động nhằm bảo vệ môi trường và sử dụng năng lượng một cách tiết kiệm, sử dụng bao bì thân thiện với môi trường như túi giấy, vải, carton” (Hồ Huy Tựu và cộng sự, 2018). Hành vi tiêu dùng xanh và các khái niệm về sản phẩm xanh và tác động của nó đến môi trường, hiểu là làm giảm thiểu tác hại đối với môi trường xã hội, hạn chế sử dụng bao bì, hạn chế tạo ra chất thải và dễ phân hủy, an toàn cho sức khỏe trong cả quá trình sản xuất hay tiêu dùng, tái chế được, không dùng động vật để làm thử nghiệm, tiết kiệm tài nguyên và các thực phẩm hữu cơ. Hà Khánh Nam Giao và cộng sự (2018) cho rằng hành vi tiêu 21 dùng xanh là sự tiêu thụ các sản phẩm có ích cho môi trường hay nói cách khác là mua các sản phẩm ít ảnh hưởng đến môi trường xung quanh.
Ngoài ra, hành vi tiêu dùng xanh còn tác động tích cực kết hợp giữa kinh tế và sinh thái, việc mua và tiêu dùng một sản phẩm ít tiêu thụ năng lượng vừa đem lại lợi ích bảo vệ môi trường, vừa đóng góp vào lợi ích kinh tế. Hành vi tiêu dùng xanh của người tiêu dùng thường được đánh giá dựa trên mức độ sẵn lòng hoặc ý định mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng và cuối cùng ý định đó có chuyển thành quyết định mua sắm và tiêu dùng của họ hay không. Các lý thuyết nền tảng liên quan đến hành vi tiêu dùng xanh 2. Thuyết hành động hợp lý TRA Mô hình thuyết hành động hợp lý TRA được đưa ra bởi Fishbein và Azjen năm 1975.
Đây là một trong những thuyết phổ biến khi nghiên cứu về hành vi tiêu dùng của một cá nhân. Thuyết hành động hợp lý TRA đã xác định hai yếu tố: Thái độ (Attitude) là mức độ cá nhân đánh giá một hành vi và Chuẩn chủ quan (Subjective Norm) là tiêu chuẩn của xã hội đặt lên cá nhân có nên đưa ra quyết định hành vi sẽ có ảnh hưởng nhất tới ý định hành vi tiêu dùng, hành vi tiêu dùng là kết quả của niềm tin rằng việc thực hiện ý định hành vi đó sẽ dẫn đến một kết quả cụ thể, chính vì vậy, ý định hành vi sẽ là động lực chính của hành vi tiêu dùng. Thuyết hành động hợp lý cho rằng khi ý định càng lớn thì sẽ tạo ra một nguồn động lực và khả năng thực hiện hành vi sẽ cao hơn. Thuyết hành vi có kế hoạch TPB Lý thuyết hành vi có kế hoạch TPB được phát triển dựa trên thuyết hành động hợp lý TRA và được Fishbein và Azjen đưa ra năm 1991.
Thuyết hành vi có kế hoạch TPB được có xu hướng được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về hành vi tiêu dùng. Thuyết hành vi có kế hoạch TPB đã xác định “Ý định thực hiện hành vi sẽ chịu ảnh hưởng bởi ba yếu tố, trong đó có hai yếu tố được dựa trên thuyết hành động hợp lý TRA là Thái độ (Attitude) và Chuẩn chủ quan (Subjective Norm). Yếu tố thứ ba là Nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived behavioral control) khi cá nhân có thể nhận thức việc thực hiện hành vi dễ hay khó”. 22 Thuyết hành vi có kế hoạch nghiên cứu về mối quan hệ giữa niềm tin và hành vi tiêu dùng của cá nhân.
Ba yếu tố niềm tin về hành vi tạo ra thái độ hành vi, niềm tin theo chuẩn mực chung và niềm tin về sự tự chủ sẽ tác động tới ý định thực hiện hành vi của con người. Niềm tin về thái độ đối với hành vi càng tích cực, niềm tin về chuẩn chủ quan nhận được nhiều sự ủng hộ và nhận thức kiểm soát không gặp nhiều rào cản thì ý định thực hiện hành vi sẽ càng lớn. Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh của sinh viên Theo Hoàng Thị Bảo Thoa (2016) “Các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi tiêu dùng xanh được coi là một số nhân tố có thể tác động làm tăng mạnh lên hoặc yếu đi sự tác ảnh hưởng của các nhân tố đến hành vi tiêu dùng xanh. Hay có thể hiểu là trong một điều kiện cụ thể, chúng sẽ tác động mạnh đến ý định tiêu dùng xanh, và dẫn đến việc thực hiện thành hành vi; trong khi ở một điều kiện cụ thể dù mặc dù có ý định tiêu dùng xanh nhưng nó lại không chuyển hóa thành hành vi tiêu dùng trong thực tế”.
Tại nghiên cứu này, chúng tôi đưa ra một số nhân tố ở cả hai phía cung và cầu bao gồm: giá trị chủ nghĩa vật chất, nhận thức về môi trường, nhận thức về sản phẩm, xúc tiến doanh nghiệp, sự sẵn có của sản phẩm xanh và một số nhân tố về môi trường bên ngoài. Các nhân tố thuộc về cầu 2. Giá trị chủ nghĩa vật chất “Chủ nghĩa vật chất được xem xét là một khái niệm phức tạp, có xu hướng ảnh hưởng tới nhiều phương diện như trong triết học, nhân loại học, giao tiếp, ý định tiêu dùng, khoa học xã hội, marketing” (Mannion và Caolan, 1995). Chủ nghĩa vật chất được phân loại ra thành hai định nghĩa chính, hai định nghĩa này có một số điểm tương đồng nhau nên dễ bị hiểu sai mục đích.
Đầu tiên, chủ nghĩa vật chất có định nghĩa mang tính triết học là “sự khởi nguồn không có gì ngoài vật chất và sự tương tác, chuyển động của chúng” (The Lange, Frederick Albert ([1865] 1925)) (Scott 2009). Chủ nghĩa vật chất được hiểu theo nghĩa phổ biến hơn mang tính thiên hướng đặt vật chất lên ưu tiên: “Chủ nghĩa vật chất là niềm tin rằng tiền bạc, quyền sở hữu và sự thoải mái về thể chất quan trọng hơn giá trị tinh thần (Từ điển Oxford). Khái niệm này được nghiên cứu của (Belk, 1984) làm rõ qua khía cạnh tiêu dùng rằng tầm quan trọng của một cá nhân gắn liền với sự sở hữu vật chất. Richins 23 và cộng sự (1992) cho rằng: “những người đánh giá cao chủ nghĩa vật chất theo đuổi việc sở hữu của cải và chú trọng vào việc tích lũy nguồn thu nhập và tài sản”.
Nhằm đánh giá và đo lường giá trị chủ nghĩa vật chất, đã có hai góc nhìn nhằm đánh giá chủ nghĩa vật chất thể hiện ra ngoài, góc nhìn văn hóa xã hội và cá nhân. Các thang đo có ưu nhược điểm riêng,. Dưới đây là các thang đo phổ biến được chấp nhận rộng rãi. (1999) đo dựa trên 3 tiêu chí đánh giá qua Sự chiếm đoạt, mục tiêu trung tâm và sự ghen tị.
Thang đo được sử dụng rộng rãi và chấp nhận nhiều nhất của Richins, Richins và cộng sự (1992) cho rằng giá trị chủ nghĩa vật chất được hiểu theo một hệ thống giá trị cá thể hoặc là giá trị thiên hướng của cá nhân đó. Thang đo của Richin (1992) là một hệ thống niềm tin đánh giá được giá trị chủ nghĩa vật chất dựa trên thành công (SUC) - quan điểm cho rằng việc sở hữu nhiều của cải như một tiêu chí để đánh giá sự thành công của con người , hạnh phúc (HAPPI) - việc sở hữu nhiều của cải tương quan với hạnh phúc và cảm thấy hài lòng với cuộc sống, mục tiêu trung tâm của bản thân (CEN) - quan điểm về việc tích lũy của cải, tài sản chiếm phần lớn mục đích sống của một người. Qua đó có thể thấy qua nhiều bài nghiên cứu đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về giá trị chủ nghĩa vật chất (Segev và cộng sự, 2015). Song từ 1990 cho đến nay, những giá trị về chủ nghĩa vật chất đều hướng đến việc chỉ ra hành vi tiêu dùng quá mức cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của bản thân.
Tác động của chủ nghĩa vật chất đối với hành vi và ý định tiêu dùng xanh còn nhiều góc độ, ý kiến trái chiều.