Chương 1 : Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương này tập trung vào các khia cạnh chung của nghiên cứu của chúng tôi: đặt vân đê, đối tượng và phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa cùa nghiên cứu. Chương 2 : Cơ’ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Trong chương 2, chúng tôi tập trung vào định nghĩa thang đo, biên sô và đôi tượng cỏ liên quan đen nghiên cứu. Ngoài ra, chúng tôi sẽ giới thiệu nghiên cứu trước đó là cơ sờ đê chúng tôi xây dựng mô hình nghiôn cứu cùa mình. Chương 3 : Tổng quan nghiên cứu Chương 4 : Kết quá nghiên cứu Chương này SC trinh bày phân tích, kiêm định thang đo và kết luận sơ bộ từ kết quã.
Chương 5 : Tổng kết nghiên cứu Nêu các hàm ý cùa nghiên cửu một cách chi tiết hơn. Ngoài ra, chúng tôi sẽ bô sung một sô hàm ý chính sách cho chính phù và đưa ra nhừng gợi ý cho các nghiên cứu trong tương lai, cũng như đề cập đến những hạn chế trong nghiên cứu. 5 CHƯƠNG 2: TÔNG QUAN NGHIÊN cứu 2. Tiêu dùng xanh Thuật ngừ tiêu dùng xanh có thẻ có nhiều cách hiêu khác nhau.
Peattie (2010) cho răng tiêu dùng xanh là một khái niộm có vân đê, nhât là vi nỏ rõ ràng là một nghịch lý. “Xanh” ngụ ý báo vệ và duy trì nguồn lực môi trường, trong khi “tiêu dùng” thường liên quan đến viộc phá húy chúng. Tiôu dùng xanh cũng bị tranh cãi như một ý tường, phụ thuộc nhiều vào bối cảnh như một tập hợp các thực tiền, cũng như phức tạp và nhiều mặt cà về lý thưyỗt và thực tiễn. Nó chông chéo các khái niệm khác, chăng hạn như tiêu dùng cỏ đạo đức (Jeffery Bray và cộng sự, 2011), bền vừng (Tim Jackson, 2004) hoặc có trách nhiệm (Deborah J.
Webb và cộng sự, 2008), dần đen sự thiếu rõ ràng vả nhất quán trong các khái niệm về lieu dùng xanh trong tài liệu nghiên cứu. “Xanh” cỏ thể được cho là chì xoay quanh các vân đê môi trường (Gibson, 2017; Maas và cộng sự, 2009), nhưng những vân đê này lại có mối liên hộ với sự phát triên bền vừng (Ivo lavicoli và cộng sự, 2014; Penny Mealy và Alexander Teytelboym, 2022). Alam (2023) cho ràng liêu dùng xanh là việc mua sãn phâm găn liên với các giá trị môi trường, dược cho là an toàn hơn cho con người và xã hội. Hành vi tiêu dùng xanh cung cấp giải pháp đe giảm thiếu các vấn nạn về môi trường do mô hình tiêu dùng thông thường gây ra.
Tiêu dùng xanh không chỉ là viộc mua và sử dụng các sân phẩm phân hủy nhanh, không đe dọa đến các loài động vật tự nhiên, không ảnh hường đên sức khoe con người mà còn là quyêt định của người tiêu dùng trong việc tiêu dùng các mặt hàng xanh, sản phâm tái chế (Luận Trọng Nguyên và cộng sự, 2023). Trong bài nghiên cứu này, nhóm nghiên cửu định nghĩa liêu dùng xanh là hành vi người tiêu dùng mua hàng đê đáp ứng nhu cầu hiện tại của họ trong cuộc sổng nhưng vần đâm bảo duy trì phúc lợi của môi trường trong tương lai.2 Sản phẩm xanh Theo Cooper (2000), sàn phẩm xanh - sân phẩm bền vừng với môi trường, được định nghĩa là nlìừng sân phâm làm giâm tác động của chúng đen môi trường. San phâm xanh cũng được định nghĩa là các sán phâm có lợi cho môi trường và được tạo ra từ các nguyên liệu không gây hại, ỏ nhiễm môi trường. Nhừng sàn phâm xanh được cam kết sè được điều chế lừ nhừng thành phần thiên nhiên, bao bi có thể tái chế được hoặc phân huỷ trong môi trường lự nhiên.
Hoặc đàm bâo được quá trinh sàn xuât không tôi ưu hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên và không gây hại đến hệ sinh thái tự nhiên. Tài liệu cũng nêu rõ rằng sàn phẩm xanh được mô tâ là những sán phẩm được sán xuất bằng cách sử dụng ít 6 tài nguyên thiên nhiên hơn, gây ít tác động tiêu cực đến môi trường và tạo ra ít chất thài hơn (Dangelico và Pontrandolfo, 2010; Policarpo và Aguiar, 2020). Anh huõng xã hội Anh hường xà hội xây ra khi các cá nhân thay đồi suy nghĩ, cám xúc hoặc hành vi đế phù hợp với xà hội hoặc môi trường xung quanh (Hu và cộng sự, 2019; Spears, Russell, 2021; Minh Le, 2021). Với sự tăng trưởng cua công nghệ và các ứng dụng mạng xà hội giúp mọi người dỗ dàng trong việc chia SC thông tin, ánh hường xà hội có thổ ngày càng lác động đến hành vi của tồ chức lớn và toàn xã hội (Vincenz Frey, Arnout van de Rijt, 2020).
Cỏ thê coi đây là yếu tố nôi bật trong nghiên cứu hành vi vi mọi người tỉm kiếm bằng chứng xã hội trước khi thử một loại sản phẩm mới, đô giám bớt sự mơ hồ trong các quyổt định (Andreas Oldcwcmc và cộng sự, 2021; Xi Hu, Xiayu Chen & Robert Davidson, 2019). Ảnh hường xà hội bắt nguồn lừ khái niệm về lính đồng nhất (Guadagno và cộng sự, 2010) và nỏ là một loại áp lực xà hội (Sussmann và cộng sự, 1982), nơi các cá nhân thế hiện nhừng hành vi tương tự như một no lực nhằm hòa nhập với mọi người (Kellerman và cộng sự, 2021; Minh Le, 2021). Nếu một người thấy rằng nhiều người khác trong xà hội cùa minh đều úng hộ và thực hiện lối sống xanh, họ có thế càm thấy áp lực từ xã hội, từ đó làm tương tự để được hỏa nhập với cộng đồng (Szu-Tung Lin và Han-Jen Niu, 2018). Tự tin vào năng lực bản thân Tự tin vào năng lực của bàn thân đổ cập đên niêm tin của một cá nhân vào khà năng cùa minh đê đạt được mục tiêu với hiệu suât mong muôn băng cách thiêt lập và thực hiện các bước cần thiết (The Anh Phan và Ngo Bao Thi Pham, 2023).
Mọi người thường thực hiện những hành vi mà họ tin rằng họ có thê làm được (Ji Kyung Park và Deborah Roedder John, 2014; Xuefeng Wei và cộng sự, 2021), chúng ta có xu hướng thích thực hiện nhừng hành động và chiên lược mà chúng ta tin là năm trong khá năng của mình (Maddux và cộng sự, 2016). Hơn nừa, viộc tự tin vào năng lực bán thân làm giâm thiểu sự không chắc chắn(The Anh Phan và Ngo Bao Thi Pham, 2023). Zaremohzzabieh (2021) định nghía sự tự tin vào năng lực bán thân trong tiêu dùng là niêm tin của người tiêu dùng vào khá năng cùa chính họ đỗ thực hiện bước tiếp theo sau khi họ được truyền cám hứng. Tự tin vào năng lực bán thân trong ngừ cánh của tiêu dùng xanh chúng tôi là niềm tin của một người vào kha năng cua họ đé thực hiện các hành động ùng hộ môi trường.
Nói cách khác, tự tin vào năng lực bàn thân trong tiêu dùng xanh là sự tự tin và việc người tiêu dùng tin răng họ có thê góp phần không nhó vào việc bảo vệ môi trường thông qua lổi sinh hoạt hàng ngày và quyết định mua sắm có trách nhiệm. Mối quan tâm về môi trường 7 Crosby (1981) định nghĩa mối quan tâm về môi trường (EC) là “thái độ mạnh mẽ đôi với bào vệ môi trường". Đông thời, nó cũng được Dunlap và cộng sự (2002) định nghĩa là thành phần liên quan đến mức độ nhận thức cùa người tiêu dùng về các tác động đen môi trường và mong muốn cua họ được góp phần giái quyết các lác động này. Nghiên cứu của Alibeli và Johnson (2009) cho răng môi quan tâm vê môi trường lả mức độ mà mồi cá nhân hiếu các vấn đề liên quan đến môi trường và sằn lòng giải quyết nó.
Diamantopoulos và cộng sự (2003) báo cáo rằng vấn đồ môi trường là một yếu tổ quan trọng trong viộc ra quyết định cùa người tiêu dùng. Diekmann và cộng sự (2019) xác định mối quan tâm về môi trường là nhận thức của mồi người về việc các tài nguyên môi trường bị đe dọa bới sự tiêu thụ quá mức và ô nhiễm. Nhừng người quan tâm đến môi trường thường ưu lien lựa chọn các sản phâm và dịch vụ thân thiện với môi trường hơn (Lou và cộng sự, 2023). Kumar và cộng sự (2021) cũng chỉ ra răng môi quan tâm vê môi trường thê hiện qua kiên thức cùa mồi người vê các sản phâm thân thiện với môi trường và ý kiến của họ về tính hiệu quả của chúng.
Các nhà nghiên cứu ngày càng chú ý đến các vấn đề môi trường, vi sự gia tăng các vấn đề môi trường có thê ảnh hường đến tính bên vững của môi trường (Ahmed và cộng sự, 2020). Hiệu quả cảm nhận Hiộu qua càm nhận là khá năng chù quan mà một thông điộp SC có tác động thuyết phục (Machi Sukka, Takashi Yamauchi và Hiroyuki Yanagisawa, 2017). Hiệu qua câm nhận cùa người tiêu dùng (PCE) đê cập đên cám nhận của người tiêu dùng với niêm tin rằng cá nhân người tiêu dùng có thế tạo ra sự khác biệt hoặc tác động đến môi trường thông qua việc mua hoặc sứ dụng các sân phâm xanh (Antil, 1984; Gleim và cộng sự, 2013; Kim và cộng sự, 2012; Hung Vu Nguyen, Cuong Hung Nguyen, Thoa Thi Bao Hoang, 2017). PCE thường được định nghía là sự tin tường cùa người tiêu dùng vào khá năng của minh đe đạt được kết quá mà cá nhân họ đánh giá cao và đã đặt ra làm mục tiôu.
Theo Hanss và Doran (2020) lại cho ràng đỏ là sự đánh giá về khả năng của người tiêu dùng trong việc đánh giá các kêt quá phát triên bên vừng nhât định và đỏng góp vào thành tựu của họ thông qua các hành vi tiêu dùng nhất định. PCE chu yểu được cho là do yếu tổ lâm lý trong hành vi cùa người tiêu dùng; tuy nhiên, các yếu tố văn hóa, xà hội và cá nhân cũng giữ một vai trò cổt lòi trong việc tạo nên PCE. Heo và Muralidharan (2019) cho biết lác động cúa PCE đôi với hành vi của người tiêu dùng cỏ ỷ thức vê môi trường (ECCB) đà nhận được nhiêu sự chú ý trong giới học thuật. Các kết quá nghiên cứu mang tính học thuật là khác nhau, với một số nghiên cửu tìm thấy những yếu tổ dự báo quan trọng về hành vi cua người tiêu dùng có ý thức về môi trường.
Các đặc diêm nhân khâu học có thể quyết định mức độ hiệu 8 quả được căm nhận, trong đó thế hệ trê mong muốn sự đỏng góp cùa họ hiệu quà hon về mặt bền vừng. Ỷ định tiêu dùng xanh Theo Ajzen (1985) hoạt động mua sắm cua người tiêu dùng chịu lác động cùa nhiều yêu tô khác nhau, gôm chuân mực chù quan (niêm tin vô suy nghĩ của người khác) và chuân mực xâ hội.