Chương 1. Cơ sở lý luận các yếu tố ảnh hưởng chất lượng đầu ra của sinh viên. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng chất lượng đầu ra của sinh viên khoa Quản trị nhân lực, Học viện Hành chính Quốc gia. Một số giải pháp và khuyến nghị nhằm cải thiện chất lượng đầu ra của sinh viên khoa Quản trị nhân lực, Học viện Hành chính Quốc gia.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG ĐẦU RA CỦA SINH VIÊN 1. Một số khái niệm 1. Chất lượng tại cơ sở giáo dục đại học “Chất lượng” là khái niệm mang phạm trù rất rộng và phức tạp, phản ánh tất cả nội dung, sự đánh giá của con người trên mọi lĩnh vực trong đời sống. Xét riêng lĩnh vực giáo dục, “chất lượng” không chỉ đơn thuần là một khái niệm, mà còn là một mục tiêu quan trọng và một tiêu chí quyết định sự thành công của các cơ sở giáo dục.
Địa vị của một trường đại học và mức độ khó khăn xin nhập học ở các trường đại học được xem là những điều kiện quan trọng của “chất lượng”. [16] Mạng lưới các tổ chức Đảm bảo chất lượng Giáo dục đại học quốc tế (INQAAHE) đã đưa ra hai định nghĩa về chất lượng Giáo dục đại học, đó là: Tuân theo các chuẩn quy định; Đạt được các mục tiêu đề ra. Tùy theo từng tình huống mà có thể vận dụng 1 trong 2 định nghĩa. [8] Tại Khoản 1 Điều 2 Quy định về kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học ban hành kèm theo Thông tư 12/2017/TT-BGDĐT Quy định về kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành: “Chất lượng của cơ sở giáo dục đại học là sự đáp ứng mục tiêu do cơ sở giáo dục đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục của Luật giáo dục đại học, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước.” [5] Theo tác giả Nguyễn Đức Chính , hiện nay trên thế giới có sáu quan điểm về chất lượng tại cơ sở Giáo dục đại học, trên cơ sở phân tích sáu quan điểm đó, tác giả Nguyễn Đức Chính đã đi đến các kết luận sau đây: “Chất lượng là một khái niệm tương đối, động, đa chiều” và “Chất lượng là sự phù hợp với mục đích - hay đạt được các mục đích đề ra từ trước”.
[7] Từ những quan điểm trên, nhóm nghiên cứu nhận định khái niệm Chất lượng tại cơ sở giáo dục đại học là sự phù hợp với mục tiêu, tầm nhìn của cơ sở giáo dục, được đánh giá thông qua sinh viên học tại trường; cán bộ, nhân viên làm việc tại trường và sự nhận định của yếu tố bên ngoài như: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chính phủ, các trường đào tạo có mục tiêu tương đồng,… 7 1. Chất lượng đầu ra “Chất lượng đầu ra” trong giáo dục thường được hiểu là các mục tiêu, kỹ năng, và kiến thức mà sinh viên hoặc học sinh đạt được sau khi hoàn thành một chương trình học tập hoặc một khóa học cụ thể. Nó đánh giá sự thành công của chương trình trong việc phát triển kỹ năng, kiến thức, và thái độ mong đợi từ sinh viên hoặc học sinh. Chất lượng đầu ra là khởi điểm của quy trình thiết kế chương trình đào tạo và thể hiện qua những thành quả mà người học đạt được thay vì mong đợi của giảng viên (thường được viết dưới dạng mục tiêu đào tạo của chương trình).
[4] Trong ngữ cảnh hướng nghiệp, chất lượng đầu ra đo lường mức độ thành công của sinh viên hoặc học sinh trong sự nghiệp sau khi tốt nghiệp. Điều này có thể bao gồm mức độ sự nghiệp, mức lương, và sự phát triển trong công việc của họ. Tóm lại, Chất lượng đầu ra là những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, trải nghiệm mà cá nhân đã đạt được và có thể cống hiến cho xã hội, có ý nghĩa với xã hội sau một quá trình học tập và rèn luyện nhất định. Nó là kết quả, sự tích lũy sau thời gian học tập nhằm đạt được mục đích của một chương trình giáo dục cụ thể.
Chất lượng đầu ra của sinh viên Chấp hành theo chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, mỗi trường đều phải hình thành và cố định một chuẩn đầu ra khác nhau. Khái niệm “Chuẩn đầu ra” được Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức công bố trong thuật ngữ “Chuẩn đầu ra ngành đào tạo” theo Công văn số 2196/BGDĐT-GDĐH về việc hướng dẫn xây dựng và công bố chuẩn đầu ra ngành đào tạo ban hành ngày 22 tháng 4 năm 2010. Theo công văn này, “Chuẩn đầu ra” là “quy định về nội dung kiến thức chuyên môn; kỹ năng thực hành, khả năng nhận thức công nghệ và giải quyết vấn đề; công việc mà người học có thể đảm nhận sau khi tốt nghiệp và các yêu cầu đặc thù khác đối với từng trình độ, ngành đào tạo. [2] Tại Khoản 6 Điều 4 của Luật Giáo dục Đại học ban hành ngày 18 tháng 6 năm 2012 quy định Chuẩn kiến thức, kỹ năng của Chương trình đào tạo là “yêu cầu tối thiểu về kiến thức, kỹ năng mà người học phải đạt được sau khi kết thúc một Chương trình đào tạo.
[14] Từ đó ta thấy khái niệm “Chuẩn đầu ra được diễn đạt là yêu cầu tối thiểu”. Đây là khái niệm có tính thuyết phục và mang lại cách hiểu thống nhất. Tại Thông tư số 07/2015/TT-BGDĐT ngày 16 tháng 4 năm 2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, khái niệm “Chuẩn đầu ra” được định nghĩa “là yêu cầu tối thiểu về kiến thức, kỹ năng, thái độ, trách nhiệm nghề nghiệp mà người học đạt được sau khi hoàn 8 thành Chương trình đào tạo” và được cơ sở đào tạo cam kết với người học, xã hội và công bố công khai cùng với các điều kiện đảm bảo thực hiện. [3] “Chất lượng đầu ra của sinh viên” là khái niệm tập trung vào đánh giá kết quả và thành tựu của sinh viên cụ thể.
Điều này bao gồm việc đánh giá khả năng của sinh viên trong việc áp dụng kiến thức và kỹ năng đã học vào các tình huống thực tế, khả năng giải quyết vấn đề, tư duy sáng tạo, và các kỹ năng mềm khác mà họ đã phát triển trong quá trình học tập. Nói cách khác, “chất lượng đầu ra của sinh viên” là một đánh giá cụ thể về hiệu suất và thành tựu của sinh viên, dựa trên các mục tiêu và tiêu chí cụ thể được đề ra trong chương trình hoặc khóa học. Đây là một phần quan trọng trong quá trình đánh giá và cải thiện chất lượng giáo dục. Các yếu tố cấu thành chất lượng đầu ra của sinh viên Theo Quyết định số 1982/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành: Chuẩn đầu ra bao gồm: Kiến thức thực tế và kiến thức lý thuyết; Kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp và kỹ năng giao tiếp, ứng xử; Mức độ tự chủ và trách nhiệm cá nhân trong việc áp dụng kiến thức, kỹ năng để thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn.[15] Dựa trên nền tảng đó, nhóm tác giả đưa ra 4 yếu tố cấu thành chất lượng đầu ra của sinh viên bao gồm: Tri thức chuyên môn nghiệp vụ, niềm tin ý thức nghề nghiệp, định hướng động lực, kỹ năng tự phát triển bản thân.
Tri thức chuyên môn nghiệp vụ Tri thức chuyên môn nghiệp vụ bao gồm các kiến thức, kỹ năng và khả năng áp dụng được của sinh viên trong lĩnh vực chuyên ngành cụ thể mà họ đang theo học. Nó là toàn bộ khái niệm, quy trình, công cụ, phương tiện của chuyên ngành và được đánh giá thông qua 5 mức độ từ việc chủ động tìm hiểu đến khả năng hướng dẫn, truyền đạt tri thức. Đối với sinh viên, việc nắm vững kiến thức chuyên môn là yêu cầu cơ bản đòi hỏi phải có để phục vụ quá trình tham gia vào thị trường lao động sau này. Tri thức chuyên môn nghiệp vụ bao gồm cả sự hiểu biết về lý thuyết và quy trình trong lĩnh vực chuyên ngành, cũng như khả năng áp dụng các kiến thức này vào thực tiễn.
Sinh viên có kiến thức sâu rộng sẽ có cơ hội nâng cao điểm số trong học tập, đặc biệt đối với những môn chuyên ngành từ đó cải thiện chất lượng đầu ra. Để làm được điều có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành là yếu tố cần được đề cao và chú trọng, bởi không có sự cân bằng giữa 2 yếu tố đó, sinh viên có thể không hiểu rõ việc áp dụng 9 kiến thức vào thực tiễn hoặc có thể gặp khó khăn khi gặp trở ngại phức tạp. Ngoài ra, khả năng học hỏi và cập nhật kiến thức mới là một yếu tố quan trọng, giúp sinh viên duy trì và nâng cao tri thức chuyên môn của mình theo thời gian. Không chỉ dừng lại ở chữ “tài” mà sinh viên phải tiếp thu và không ngừng cầu tiến, học tập và chăm chỉ suốt đời.
Bên cạnh tri thức, kỹ năng nghiệp vụ được rèn luyện và tích lũy trong và ngoài trường sẽ quyết định chất lượng làm việc khi ra trường của sinh viên. Sinh viên được đào tạo đúng cách sẽ có khả năng áp dụng kiến thức chuyên môn vào tình huống thực tế, tăng khả năng thành công trong công việc. Yếu tố này không còn chỉ là trách nhiệm của sinh viên mà còn của các cơ sở giáo dục. Các chương trình đào tạo nên được thiết kế sao cho phản ánh những yêu cầu và xu hướng mới trong lĩnh vực chuyên môn, đồng thời cung cấp các cơ hội học tập và thực hành để sinh viên có thể phát triển và áp dụng kiến thức của mình một cách hiệu quả.
Để trở thành người có đầy đủ trình độ tri thức khoa học, tri thức chuyên ngành, có đạo đức, lối sống lành mạnh, chuẩn mực có lý tưởng chính trị xã hội chủ nghĩa thì bắt buộc sinh viên phải nhận thức rõ vị trí, vai trò của mình khi còn ngồi trên ghế học viện. Việc nắm bắt được thực tế ngành nghề và xu hướng của thị trường lao động giúp sinh viên hiểu rõ về những thay đổi, xu hướng và yêu cầu mới trong ngành nghề của họ để kịp thời nâng cao tri thức chuyên môn nghiệp vụ. Chất lượng đầu ra không dừng lại ở kiến thức, kỹ năng mà bao gồm cả tư tưởng mới, tư tưởng của thời đại kinh tế số, luôn mang tâm thế chủ động, sẵn sàng đối mặt với yêu cầu và mong đợi của thị trường lao động, tăng cơ hội nghề nghiệp.