đặt vấn đề với sinh viên ngay vào buổi học sau. Cả lớp sẽ cùng thảo luận về tin tức đó, và điều đó giúp sinh viên tiếp thu được nhiều kiến thức mới một cách nhanh chóng. Các sinh viên có thể trao đổi thông tin mà mình cập nhật được với cả lớp cũng như dễ dàng trao đổi với giảng viên. Thứ hai, trên các nền tảng trực tuyến giúp phá bỏ rào cản địa lý giảng viên và sinh viên ở các nước đang phát triển như Việt Nam.
Người học có thể truy cập vào những tài liệu điện tử phù hợp với nhu cầu của người học và các hội nghị trực tuyến với giảng viên trong và ngoài nước. Công nghệ cũng mở ra cơ hội phát triển nghề nghiệp cho giảng viên, cho phép giảng viên mới bắt đầu được cố vấn bởi các giảng viên bậc thầy bất kể khoảng cách. Với việc dạy và học trực tuyến, người học ở đâu cũng có thể truy cập được miễn sao có Internet và máy tính. Điều này trước đây chỉ dành cho những sinh viên có đủ khả năng tài chính, nhưng giờ đây đã có sẵn cho hầu hết các sinh viên thông thường.
Yêu cầu chuyển đổi số trong cơ sở giáo dục đại học Trước khi triển khai về nội dung của chuyển đổi số trong hoạt động giáo dục đại học, cần hiểu được những yêu cầu của chuyển đổi số. Một là, việc chuyển đổi số cần được triển khai thống nhất, đồng bộ. Chuyển sổi số cần được triển khai đồng bộ từ cấp trên đến cấp cơ sở, ở tất cả các cấp quản lý. Việc chuyển đổi số sẽ làm thay đổi môi trường làm việc từ truyền thống sang môi trương làm việc số hiện đại.
Do đó, chuyển đổi số cần thực hiện ở tất cả các cấp mà không riêng lẻ từng cấp nào, đồng bộ tất cả các lĩnh vực hoạt động. Hai là, việc chuyển đổi số cần có mô hình hoạt động số của cơ sở giáo dục đại học. Chuyển đổi ố trong tổ chức sẽ làm thay đổi về công nghệ, mô hình hình hoạt động và các thức vận hành. Đây sẽ là một điểm khác so với ứng dụng công nghệ thông thường.
Do đó để có thể thay đổi mô hình hoạt động cần áp dụng công nghệ số. 18 Ba là, việc chuyển đổi số cần có nền tảng công nghệ số đáp ứng yêu cầu. Yếu tố đặt nền móng cho chuyển đổi số là phát triển hạ tầng số và nền tảng số, công nghệ cũng là động lực của chuyển đổi số. Bốn là, Việc chuyển đổi số cần có thể chế cho hoạt động trên môi trường số.
Chuyển đổi số sẽ làm thay đổi mô hình hoạt động, phương thức hoạt động và môi trường làm việc áp dụng thể chế sẽ làm cơ sở cho chuyển đổi số. Năm là, việc chuyển đổi số cần có nguồn nhân lực số và môi trường làm việc số. Con người có vai trò vô cùng quan trọng và quyết định dẫn đến sự thành công của mọi công việc. Sự đồng lòng vào cuộc của cả hệ thống chính trị đồng bộ ở tất cả các cấp và toàn thể nhân dân sẽ là sự bảo đảm sự thành công của chuyển đổi số.
Chuyển đổi số sẽ thay đổi môi trường làm việc thành môi trường số. Do vậy đòi hỏi nguồn nhân lực và môi trường số phải đáp ứng yếu cầu cấp thiết đạt ra. Nội dung chuyển đổi số trong hoạt động giáo dục đại học của các trường đại học Các hoạt động học thuật trong các trường đại học là một quá trình liên tục từ khi nhập học đến khi tốt nghiệp, bao gồm các hoạt động cốt lõi như tuyển dụng sinh viên, phát triển chương trình giáo dục, tạo chương trình giảng dạy, giảng dạy và học tập, công nhận sau đại học và hỗ trợ sinh viên sau khi tốt nghiệp. Các hoạt động này đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng giảng dạy của nhà trường.
Thay đổi số trong giáo dục đại học phải được thực hiện đồng bộ, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực hoạt động giáo dục, đặc biệt là về dữ liệu, phần mềm và phương pháp làm việc: Thứ nhất, dữ liệu sinh viên: Phải được quản lý liên tục, nhất quán từ khi nhập học đến khi tốt nghiệp và thậm chí sau đó. tốt nghiệp Ví dụ, sinh viên được hướng dẫn toàn diện từ khi nhập học đến khi tốt nghiệp bằng cách sử dụng mã nhận dạng. Thứ hai, về phần mềm: chúng ta cần một hệ thống phần mềm tích hợp duy nhất sử dụng một cơ sở dữ liệu duy nhất để đảm bảo tính đồng bộ và hiệu quả của hệ thống. Ví dụ, với thông tin đăng nhập của mình, sinh viên có thể tham gia vào các chương trình đào tạo và truy cập tài liệu học tập kỹ thuật số.
19 Thứ ba, liên quan đến phương thức hoạt động và cung cấp dịch vụ: chúng ta phải chuyển từ phương thức truyền thống sang vận hành, dịch vụ trên môi trường số, sử dụng công nghệ số, công nghệ hiện đại, một cách thông minh. Các hoạt động này đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng giảng dạy của nhà trường. Thay đổi số trong giáo dục đại học phải được thực hiện đồng bộ, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực hoạt động giáo dục, đặc biệt là về dữ liệu, phần mềm và phương pháp làm việc. Thứ nhất, quản lý dữ liệu sinh viên cần được thực hiện liên tục và nhất quán từ khi nhập học đến khi tốt nghiệp, và thậm chí sau đó.
Ví dụ, sinh viên có thể được hướng dẫn toàn diện từ khi nhập học đến khi tốt nghiệp thông qua việc sử dụng mã nhận dạng cá nhân. Thứ hai, về phần mềm, chúng ta cần một hệ thống phần mềm tích hợp duy nhất sử dụng một cơ sở dữ liệu duy nhất để đảm bảo tính đồng bộ và hiệu quả của hệ thống. Ví dụ, với thông tin đăng nhập của mình, sinh viên có thể tham gia vào các chương trình đào tạo và truy cập tài liệu học tập kỹ thuật số. Thứ ba, liên quan đến phương thức hoạt động và cung cấp dịch vụ, chúng ta phải chuyển từ phương thức truyền thống sang vận hành, dịch vụ trên môi trường số, sử dụng công nghệ số, công nghệ hiện đại một cách thông minh.
Chuyển đổi số trong hoạt động tuyển sinh và nhập học Quy trình tuyển sinh đóng vai trò then chốt trong hoạt động giáo dục của các trường đại học, ảnh hưởng sâu sắc đến cả số lượng và chất lượng sinh viên nhập học. Hoạt động này bao gồm các giai đoạn chính như quảng bá thông tin, tổ chức quy trình tuyển sinh, xét tuyển, và tiến hành nhập học. Theo các phương pháp truyền thống, việc quảng bá thường diễn ra thông qua báo chí, trang web chính thức của trường, gửi thông báo trực tiếp, hoặc tư vấn tại các trường trung học. Phương pháp này chỉ tiếp cận được một nhóm nhỏ những người quan tâm và có khả năng tiếp cận thông tin, trong khi thông tin về các ngành học và cơ sở đào tạo thường rất hạn chế, dẫn đến sự hiểu biết chưa đầy đủ của học sinh, ảnh hưởng đến quyết định chọn trường và ngành học của họ.
Trong việc tổ chức tuyển sinh, xét tuyển và nhập học, các trường đại học cần đa dạng hóa phương thức tuyển sinh, tăng cường sử dụng các nền tảng trực tuyến, áp dụng hồ sơ điện 20 tử, quy trình xét tuyển tự động và thông báo kết quả cùng thủ tục nhập học trực tuyến. Điều này đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tuyển sinh được hỗ trợ bởi trí tuệ nhân tạo và các công nghệ tiên tiến, đảm bảo an toàn, bảo mật thông tin và khả năng kết nối thông minh với người có nhu cầu. Tóm lại, quá trình chuyển đổi số trong tuyển sinh bao gồm việc thay đổi phương thức quảng bá thông tin, phương thức xét tuyển, phương thức nhập học và ứng dụng công nghệ tiên tiến trong toàn bộ quy trình tuyển sinh. Chuyển đổi số trong hoạt động dạy - học Dạy và học là những hoạt động cốt lõi trong giáo dục đại học, giúp sinh viên đạt được mục tiêu học tập và chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo.
Quá trình này bao gồm các hoạt động giảng dạy của giảng viên, việc học của sinh viên, cùng với các hoạt động kiểm tra và đánh giá. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy đã mang lại nhiều thành công cho các trường đại học, tuy nhiên, việc triển khai vẫn còn phân tán giữa các khoa, bộ môn và cá nhân giảng viên. Chuyển đổi số trong hoạt động dạy và học cần được triển khai một cách đồng bộ với sự tham gia của tất cả các cán bộ, giảng viên và sinh viên. Bài giảng có thể là sản phẩm của nhóm chuyên môn, bộ môn, cơ sở giáo dục hoặc các chuyên gia đầu ngành.
Chuyển đổi số trong dạy và học, kiểm tra và đánh giá kết quả học tập bao gồm việc thay đổi hình thức tổ chức dạy và học, kiểm tra và đánh giá; thay đổi nguồn và phương thức cung cấp học liệu; đổi mới phương pháp giảng dạy, tương tác và quản lý lớp học. Hoạt động dạy và học trên môi trường số được thực hiện qua các hệ thống đào tạo trực tuyến. Nguồn học liệu chủ yếu được cung cấp qua môi trường mạng thông qua hệ thống quản lý học tập (LMS), hệ thống quản lý nội dung học tập (LCMS), thư viện số và các nguồn tài nguyên giáo dục mở. Phương pháp giảng dạy, quản lý lớp học và tương tác với sinh viên trên môi trường số được thực hiện đa dạng nhờ sự hỗ trợ của các công cụ kỹ thuật số, học liệu số và môi trường truyền thông số.
Công nghệ cho phép giảng viên kết hợp nhiều phương pháp giảng dạy, tương tác với sinh viên qua nhiều kênh, và sử dụng các công cụ quản lý khác nhau. Sinh viên cần chuyển từ học thụ động sang tự học thông qua tài liệu và học liệu số, từ 21 học tập trực tiếp sang học trực tuyến, từ kiểm tra trên giấy sang kiểm tra trực tuyến. Điều này đòi hỏi sinh viên phải tự giác và chủ động trong học tập. Trong quá trình chuyển đổi số trong hoạt động dạy và học, nhà trường cần xây dựng hệ thống đào tạo trực tuyến, tạo nguồn học liệu số và phát triển năng lực số cho giảng viên và sinh viên.
Các nội dung chính cần triển khai bao gồm: chuyển đổi môi trường dạy và học, hình thức tổ chức dạy và học, phương pháp giảng dạy, cách sử dụng tài nguyên dạy học và công nghệ trong giảng dạy.