Chương 1 của Luận án hệ thống hóa và tổng hợp cơ sở lý luận về số hóa, TCKTSD TLLTSH và NVS đồng thời chỉ ra những khoảng trống thuộc phạm vi nghiên cứu của Luận án cần được giải quyết. Chƣơng 2: Cơ sở lý luận về số hoá và tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ số hoá tại các Lưu trữ lịch sử đáp ứng yêu cầu phát triển Nhân văn số Nội dung Chương 2 làm rõ NVS qua việc định nghĩa khái niệm, phân tích ý nghĩa và đặc biệt là khái niệm dự án NVS được sử dụng trong khuôn khổ Luận án. Trên cơ sở lý thuyết về NVS, số hóa và TCKTSD TLLTSH, tác giả làm rõ và chứng minh mối quan hệ giữa các lĩnh vực này đồng thời làm rõ các yêu cầu phát triển NVS đối với số hóa và TCKTSD TLLTSH. 14 Chƣơng 3: Thực trạng số hoá và tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu số hoá tại các Lưu trữ lịch sử đáp ứng yêu cầu phát triển Nhân văn số ở Việt Nam Tại Chương 3, căn cứ vào các kết quả khảo sát, tác giả đánh giá về ưu điểm, hạn chế của thực tế triển khai hoạt động số hóa và TCKTSD TLLTSH của các LTLS.
Đồng thời, một số yếu tố thuộc thực trạng số hóa và TCKTSD TLLTSH hiện nay đã được nhận diện có liên quan tới NVS. Trên cơ sở nhận diện các yếu tố này, tác giả đã phân tích và đưa ra đánh giá về sự đáp ứng đối với yêu cầu phát triển NVS. Chƣơng 4: Giải pháp phát triển số hoá và tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu số hoá tại các Lưu trữ lịch sử đáp ứng yêu cầu phát triển Nhân văn số ở Việt Nam. Luận án đề xuất hai nhóm giải pháp chuyên môn và giải pháp về mặt tổ chức, quản lý trong đó nhấn mạnh những nguyên tắc cần tuân thủ khi xây dựng, áp dụng các giải pháp (liên quan tới các đặc điểm của TLLT so với các loại hình tư liệu, tài liệu khác).
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SỐ HÓA VÀ TỔ CHỨC KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI LIỆU LƢU TRỮ SỐ HÓA ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN NHÂN VĂN SỐ Trong khuôn khổ đề tài Luận án “Số hóa và tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu số hóa tại các Lưu trữ lịch sử đáp ứng yêu cầu phát triển Nhân văn số ở Việt Nam”, tác giả triển khai thực hiện tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến số hóa, tổ chức khai thác, sử dụng TLLTSH, Nhân văn số và tổ chức khai thác, sử dụng TLLTSH trong mối liên quan với NVS.1 Ngôn ngữ được sử dụng của các công trình nghiên cứu bao gồm tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Trung và tiếng Đức. Trong đó, tiếng Việt và tiếng Anh là hai ngôn ngữ được sử dụng nhiều nhất. Các công cụ tìm kiếm như Google scholar, ELSEVIER, Jstor, IEEE, Z-Library… được sử dụng để tra cứu các công trình khoa học nhằm xác định các nghiên cứu liên quan đã được thực hiện, nhận diện mức độ đạt được của các kết quả nghiên cứu, từ đó đánh giá tình hình nghiên cứu để xác định những vấn đề đặt ra cần giải quyết trong khuôn khổ Luận án (theo Paré G. và cộng sự năm 2015).
[120] Về phương pháp, việc nghiên cứu tổng quan được thực hiện trên cơ sở kết hợp hai phương pháp định lượng và định tính. Phương pháp định lượng được dùng trong việc thống kê, phân loại, tính tỷ lệ các công trình nghiên cứu theo các góc độ khác nhau. Phương pháp định tính được sử dụng trong việc hệ thống hóa, phân tích, tổng hợp, so sánh các nội dung và phương pháp đã được sử dụng trong các công trình nghiên cứu liên quan. Dựa trên hai phương pháp này, tác giả thể hiện kết quả tổng quan qua phương pháp trích nguyên văn, lược trích, thuật lại ý tưởng của tác giả… và cấu trúc tổng quan qua dạng 2 theo tác giả Giarrusso và các cộng sự (1998).
Cụ thể là trình bày kết quả nghiên cứu của các tác giả khác nhau theo từng nội dung nghiên cứu. 1 Trong các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, “tài liệu lưu trữ điện tử” là thuật ngữ được sử dụng với mức độ phổ biến cao hơn nhiều so với thuật ngữ “tài liệu lưu trữ số hóa”, mặc dù tài liệu lưu trữ số hóa là một trong hai dạng của tài liệu lưu trữ điện tử. Do đó, tại chương Tổng quan, tác giả sử dụng thuật ngữ tài liệu lưu trữ điện tử theo đúng bản văn của các công trình nghiên cứu đã trình bày. Thống kê nguồn tƣ liệu đƣợc sử dụng trong tổng quan 1.
Nguồn tư liệu nước ngoài Stt Nội dung Loại hình Số Thời gian Ghi chú lƣợng Khái niệm, mục Sách 03 2008, đích, quy trình, 2017, 2019 yêu cầu kỹ thuật. Bài viết 27 2003-2021 Số hóa Cẩm nang 09 2005, 1 TLLT hướng dẫn 2007- nghiệp vụ 2010, 2014, 2016-2020 Tính năng khai Sách 2 2005, TCKTSD thác, sử dụng 2016, 2017 là một TLLTSH của Hệ phần nội thống quản lý dung của TLLTSH sách Hợp tác với Luận án 01 2015 Michael doanh nghiệp/tổ Kriesberg chức tư nhân trong TCKTSD TCKTSD TLLTSH trực 2 TLLTĐT tuyến - Khái quát về Bài viết ~ 50 2005, TCKTSD Hội thảo, 2006, TLLTSH Tạp chí và 2008, - Hệ thống thông bài luận 2011, tin lưu trữ mở Website 2014, 2017 (OAIS) - Mô hình TCKTSD trực tuyến 17 - Vấn đề pháp lý trong TCKTSD - Lý luận cơ bản Sách 32 2004, về NVS 2006, - Tranh luận về 2007, NVS 2011- - Phương pháp 2016, 2020 nghiên cứu NVS - Phân tích dữ liệu - NVS và các Nhân văn 3 ngành khoa học số khác - Lịch sử hình Bài viết ~ 200 2016, thành và phát Hội thảo, 2018, triển của NVS Tạp chí và 2019, 2020 - Ý nghĩa của bài luận NVS Website - Cộng tác, chia sẻ giữa các học giả - Dự án NVS Mối quan hệ giữa Sách 01 2015 công tác lưu trữ và NVS TCKTSD -Triển vọng của Bài viết 14 2011, TLLTĐT lưu trữ trong bối Hội thảo, 2014, 4 liên quan cảnh NVS Tạp chí và 2018-2020 đến NVS -Mối quan hệ bài luận giữa công tác lưu Website trữ và NVS - Dự án NVS 18 1. Nguồn tư liệu trong nước Stt Nội dung Loại Số Thời Ghi chú hình lƣợng gian Khái niệm, quy trình, Luận văn 06 2013- Số hóa nguyên tắc, yêu cầu, 2016 1 TLLT giải pháp. Bài viết 19 2008- 2019 - Công cụ tra cứu Luận văn 04 2014, Đề tài về - Phòng đọc TLLT 2015, ứng dụng trực tuyến 2018, công nghệ - Triển lãm TLLT 2019 trong trực tuyến TCKTSD TLLT truyền thống TCKTSD không 2 TLLTĐT thuộc phạm vi thống kê - Mục đích, ý nghĩa Bài viết 36 2007, - Hình thức TCKTSD Hội thảo, 2008, TLLSH Tạp chí 2013, - Phần mềm TCKTSD và bài 2014, - Điều kiện triển khai luận 2021 Website - Khái niệm, mục Bài viết 5 2019, đích, ý nghĩa Hội thảo, 2020 - Dự án NVS Tạp chí Nhân 3 - Thư viện, di sản văn và bài văn số hóa, trung tâm tri luận thức số trong bối Website cảnh NVS 19 - Tích hợp dữ liệu Bài viết 03 2017- - Khai thác TLLT Hội thảo, 2020, trực tuyến Tạp chí 2022 TCKTSD - Khai thác dữ liệu và bài TLLTĐT phi cấu trúc luận 4 liên quan - Mối quan hệ giữa Website đến NVS lưu trữ, thư viện và NVS - Cộng tác đám đông - Dự án NVS 1.
Nhận xét về nguồn tƣ liệu đƣợc sử dụng trong tổng quan 1. Số lượng và loại hình công trình nghiên cứu Số lượng: Trong phạm vi khảo cứu của Luận án, nhìn chung, số lượng các công trình nghiên cứu về số hóa, TCKTSD TLLTĐT và NVS trên thế giới và ở Việt Nam vẫn khá khiêm tốn. Số lượng các công trình có sự chênh lệch rõ rệt giữa các nhóm (ba nhóm nghiên cứu chính được phân loại theo bảng trên), giữa các loại hình công trình, giữa các công trình trong và ngoài nước. Về các hướng nghiên cứu, hai hướng nghiên cứu độc lập (số hóa, NVS, TCKTSD TLLTĐT) chiếm số lượng công trình lớn hơn hướng nghiên cứu giao thoa giữa NVS và TCKTSD TLLTĐT.
Về loại hình, các nghiên cứu ở quy mô bài viết chiếm số lượng lớn nhất trong khi sách, luận án và luận văn vẫn rất hạn chế về số lượng. Về phạm vi nghiên cứu, số lượng các công trình ở nước ngoài có phần vượt trội hơn trong nước, đặc biệt là ở lĩnh vực NVS. Loại hình: Các hướng nghiên cứu được thực hiện với loại hình rất đa dạng, với quy mô khác nhau từ các bài viết hội thảo, tạp chí, bài luận được đăng tải trên các Tạp chí khoa học, Website cho tới luận văn, luận án và sách. Theo khảo sát sơ bộ về kết quả nghiên cứu, khác với loại hình luận văn, luận án và sách, tác giả nhận thấy đa phần các công trình ở loại hình bài viết có nội dung gợi mở hoặc trình bày những vấn đề đặt ra nói chung.
Đối với loại hình sách, TCKTSD TLLTĐT chỉ là một phần nhỏ trong tổng thể nội dung về quản lý TLLTĐT. Thời gian công bố các công trình nghiên cứu Ở nước ngoài, các công trình nghiên cứu được thực hiện và công bố sớm hơn tại Việt Nam. Các công trình nghiên cứu về số hóa TLLT được thực hiện sớm nhất ở nước ngoài từ năm 2003 trong khi công trình đầu tiên của Việt Nam được công bố năm 2008. Hai hướng nghiên cứu độc lập về TCKTSD TLLTĐT và NVS đều được thực hiện từ năm 2005 và 2006 trong khi hướng nghiên cứu giao thoa mới được thực hiện từ năm 2011.
Ở Việt Nam, đa phần các nghiên cứu về TCKTSD TLLTĐT được thực hiện từ khoảng năm 2010. Đây là mốc thời gian khá muộn so với thời gian công bố của các nghiên cứu về những nghiệp vụ khác của công tác lưu trữ. Thực tế này xuất phát từ nguyên nhân sau: “Tinh thần của Pháp lệnh bảo vệ TLLT (năm 1982) vẫn chủ yếu là hướng tới việc bảo đảm an toàn cho tài liệu. Việc tổ chức sử dụng, phát huy nhiều mặt giá trị của tài liệu chỉ thực sự được đề cập và ngày càng được đẩy mạnh từ sau khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh lưu trữ (năm 2001) và Luật Lưu trữ (năm 2011)” [62, tr.
Đặc biệt, tại Luật Lưu trữ, quản lý TLLTĐT nói chung và TCKTSD TLLTĐT nói riêng đã được đề cập rõ nét, tạo tiền đề cho các học giả định hướng và thực hiện các công trình khoa học liên quan.