Chương 1: SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI LIỆU TẠI KLTLS THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 1.1 Khái quát chung về Kho Lưu trữ Lịch sử Thành phố Đà Nẵng 1.1 Quá trình hình thành và phát triển Sau ngày tách tỉnh, Đà Nẵng đã bắt đầu chuyển mình và có những bước phát triển vượt bậc. Góp phần vào thành công đó, không thể không kể đến vai trò của công tác Lưu trữ. Mặc dù, lúc này thành phố vẫn chưa có hệ thống lưu trữ tập trung, cách thức lưu trữ hồ sơ tại mỗi cơ quan, đơn vị đều không thống nhất, công tác lưu trữ còn sơ sài, đội ngũ cán bộ thiếu về số lượng và yếu về trình độ chuyên môn nên chưa đáp ứng yêu cầu của công tác lưu trữ. Yêu cầu đặt ra lúc này đối với công tác Lưu trữ của thành phố là phải đi vào nề nếp ổn định, đồng thời đáp ứng việc cung cấp tài liệu cần thiết để thực hiện các chỉ đạo, điều hành của UBND thành phố.
Thực hiện Chỉ thị số 726/TTg ngày 04 tháng 9 năm 1997 của Thủ tướng Chính phủ “về tăng cường công tác lưu trữ trong thời gian đến” và Thông tư số 40/1998/TT-TCCP ngày 24 tháng 01 năm 1998 của Ban tổ chức Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) “về hướng dẫn tổ chức lưu trữ của cơ quan Nhà nước các cấp”, văn phòng UBND thành phố Đà Nẵng thấy rằng việc thành lập TTLT Thành phố Đà Nẵng trong thời điểm hiện nay là cần thiết và cấp thiết. Vì thế, UBND Thành phố Đà Nẵng đã quyết định thành lập TTLT Thành phố Đà Nẵng theo quyết định số: 3218/1998/QĐ-UB ngày 06 tháng 6 năm 1998. TTLT này có chức năng lưu trữ hiện hành, lưu trữ lịch sử, trực thuộc Văn phòng UBND Thành phố Đà Nẵng; có nhiệm vụ và quyền hạn theo điểm A, phần II của Thông tư số 40/1998/TT-TCCP ngày 24/01/1998 của Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ. Ngoài ra còn thực hiện các nghiệp vụ khác về công tác lưu trữ do UBND Thành phố Đà Nẵng giao.
12 z Sau một thời gian hoạt động, Trung tâm đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, đảm bảo công tác Lưu trữ được thông suốt. Nhưng đến năm 2005, căn cứ vào Thông tư số 21/2005/TT-BNV ngày 01/02/2005 của Bộ Nội Vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của tổ chức văn thư, lưu trữ Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính Phủ và UBND. Xét thấy nhiệm vụ của TTLT chưa đầy đủ, UBND Thành phố Đà Nẵng đã quyết định thành lập lại TTLT Thành phố Đà Nẵng theo số: 9357/QĐ-UBND ngày 30/12/2006. Lúc này TTLT trực thuộc Văn phòng UBND Thành phố Đà Nẵng.
Sau một thời gian dài hoạt động, thực hiện ý kiến kết luận của Thường trực Thành ủy tại cuộc họp ngày 07 tháng 11 năm 2013 và theo đề nghị của Giám đốc Sở Nội vụ tại tờ trình số 2334/TTr - SNV ngày 25 tháng 12 năm 2013, UBND Thành phố Đà Nẵng đã ban hành quyết định số 441/ QĐ – UBND ngày 16 tháng 01 năm 2014 về việc chuyển TTLT trực thuộc văn phòng UBND thành phố sang trực thuộc Sở Nội Vụ. Gần đây nhất, vào ngày 25 tháng 3 năm 2015, Quyết định 1660/ QĐ – UBND về việc thành lập Chi cục Văn thư – Lưu trữ Thành phố Đà Nẵng của UBND Thành phố Đà Nẵng đã nêu rõ: “Chi cục Văn thư – Lưu trữ thành phố Đà Nẵng trực thuộc Sở Nội vụ trên cơ sở sắp xếp, tổ chức phòng Quản lý Văn thư – Lưu trữ và TTLT thuộc Sở Nội vụ”. Tiếp theo đó, ngày 10 tháng 4 năm 2015 Quyết định số 222/ QĐ – SNV Sở Nội Vụ đã ban hành Quyết định về việc thành lập TTLT Lịch sử Thành phố Đà Nẵng trên cơ sở TTLT. Có thể nói, đây là một sự nỗ lực của các sở, ban, ngành trong việc thực hiện theo sự chỉ đạo của Thông tư số 02/2010/TT – BNV ngày 28 tháng 4 năm 2010 của Bộ Nội vụ “về việc hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của tổ chức Văn thư – Lưu trữ Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND các cấp”.
Những văn bản này đã quy định rõ Lưu 13 z trữ lịch sử tại các Tỉnh - Thành phố trực thuộc Trung ương phải thành lập Chi Cục Văn thư – Lưu trữ thuộc Sở Nội vụ.2 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của TTLT Lịch sử Thành phố Đà Nẵng Vị trí , chức năng: Theo Quyết định số 222- QĐ/ SNV ngày 10 tháng 4 năm 2015 của Sở Nội Vụ “về việc thành lập TTLT Ḷch sử uhành phố Đà Nẵng”, hiện nay TTLT là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Nội vụ, có chức năng giúp Chi cục trưởng Chi cục Văn thư – Lưu trữ trong việc thực hiện nhiệm vụ lưu trữ lịch sử và thực hiện các dịch vụ công về lưu trữ. Trung tâm chịu sự quản lý, chỉ đạo về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, biên chế của Chi cục trưởng Chi cục Văn thư – Lưu trữ thành phố. TTLT Lịch sử Thành phố Đà Nẵng có tư cách pháp nhân, được sử dụng con dấu theo quy định và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước theo quy định.01] Nhiệm vụ: TTLT Thành phố Đà Nẵng có nhiệm vụ: - Thực hiện nhiệm vụ Lưu trữ Lịch sử của Thành phồ, bao gồm: + Đề xuất Danh mục cơ quan, tổ chức thuộc nguồn nộp lưu tài liệu và phê duyệt Danh mục tài liệu nộp lưu vào Lưu trữ Lịch sử Thành phố; + Hướng dẫn các cơ quan, tổ chức thuộc nguồn nộp lưu tài liệu chuẩn bị tài liệu nộp lưu; + Thu thập, chỉnh lý, xác định giá trị, thống kê, tu bổ, phục chế, bảo hiểm, bảo quản, giải mật tài liệu lưu trữ lịch sử; + Tổ chức khai thác, sử dụng TLLT theo quy định của pháp luật; - Thực hiện các hoạt động dịch vụ lưu trữ theo quy định của pháp luật. 14 z - Thực hiện công tác báo cáo, thống kê về văn thư, lưu trữ theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện quản lý tài chính, tài sản được giao cho Trung tâm theo quy định của pháp luật. - Thực hiện các nhiệm vụ khác do Chi cục trưởng, Chi cục Văn thư – Lưu trữ giao phó.02] Cơ cấu tổ chức bộ máy của Trung tâm. Trung tâm có một Giám đốc, một Phó Giám đốc và các viên chức nghiệp vụ. 1- Giám đốc Trung tâm do Giám đốc Sở Nội vụ Thành phố bổ nhiệm, miễn nhiệm; chịu trách nhiệm trước Chi cục trưởng Chi cục Văn thư – Lưu trữ và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Trung tâm.
2- Phó Giám đốc Trung tâm do Chi cục trưởng, Chi cục Văn thư - Lưu trữ bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Giám đốc Trung tâm và trên cơ sở ý kiến đồng ý của Giám đốc Sở Nội vụ. Phó Giám đốc Trung tâm có nhiệm vụ giúp Giám đốc Trung tâm thực hiện một số công tác. Bên cạnh đó, còn chịu trách nhiệm trước Giám đốc Trung tâm và trước pháp luật về lĩnh vực công tác được phân công.2 Khối lượng, thành phần, nội dung, ý nghĩa của tài liệu hiện đang bảo quản tại KLTLS Thành phố Đà Nẵng 1.1 Khối lượng Theo kết quả khảo sát, thống kê của chúng tôi, hiện nay số lượng Phông tài liệu đang được lưu trữ tại KLTLS Thành phố Đà Nẵng là 19 phông, trong đó có 17 phông đóng và 02 phông mở với tổng chiều dài mét giá là trên 1050 mét; trong đó có 980 mét giá tài liệu hành chính, 70 mét giá tài liệu khoa học kỹ thuật (chủ yếu là tài liệu XDCB). Toàn bộ tài liệu này được thể hiện 15 z trên vật mang tin bằng giấy.
Thời gian của tài liệu chủ yếu là từ năm 1975 - 2011. Ngoài ra, KLTLS Thành phố Đà Nẵng hiện nay còn bảo quản khối tài liệu thời Pháp thuộc từ năm 1885 – 1954: khoảng 150 cuộn tài liệu bản đồ, 10 mét giá tài liệu công báo, sổ khoảnh, sổ sách thuế nông nghiệp, sổ diện tích, phân hạn định sản xuất,…thời gian của tài liệu khoảng từ năm 1953 – 1954, Công báo bằng tiếng Pháp có thời gian tài liệu từ năm 1885 – 1961. Có thể chia tài liệu thành 2 nhóm lớn: nhóm phông TLLT của UBND Thành phố Đà Nẵng và nhóm phông TLLT của các sở, ban, ngành. Nhóm thứ nhất là nhóm phông lưu trữ của UBND Thành phố Đà Nẵng: - Phông Lưu trữ HĐND – UBND Thành phố Đà Nẵng được chia ra phông đóng và phông mở.
Khối lượng phông đóng phản ánh quá trình hình thành, phát triển và toàn bộ hoạt động của cơ quan đơn vị hình thành phông từ khi thành lập đến khi chia tách hai tỉnh Quảng Nam và Đà Nẵng năm 1996. Do tình hình chiến tranh và sự chia tách của hai tỉnh, nên hiện nay khối lượng tài liệu còn được bảo quản tại KLTLS thành phố Đà Nẵng còn lại khoảng 3294 hồ sơ, tính ra khoảng 330 mét giá tài liệu trong đó tình trạng vật lý cũng bị hư hỏng khá nhiều. Phông Lưu trữ UBND Thành phố Đà Nẵng từ năm 1997 tới nay: đây là phông lưu trữ mở, toàn bộ tài liệu lưu trữ phản ánh quá trình hoạt động của đơn vị hình thành Phông, từ khi chia tách tỉnh (1997) đến nay. Đây là khối lượng tài liệu chủ yếu được bảo quản với khối lượng lớn, khoảng 5379 hồ sơ.
Nhóm thứ hai là nhóm phông lưu trữ của các sở, ban, ngành: tài liệu chủ yếu phản ánh quá trình hình thành, phát triển trong hoạt động của các cơ quan, đơn vị hình thành phông. Khối lượng tài liệu này tương đối nhiều, nó 16 z chiếm khoảng 455,1 mét bao gồm 4556 cặp hồ sơ được tính từ năm 1997 tới năm 2014. Tóm lại, tính đến năm 2014 số lượng tài liệu của các Phông lưu trữ được bảo quản tại KLTLS Thành phố Đà Nẵng là 8673 đơn vị bảo quản.2 Thành phần, nội dung Bộ máy cơ quan nhà nước cấp Thành phố trực thuộc Trung ương bao gồm: HĐND – cơ quan quyền lực cao nhất ở địa phương, UBND – cơ quan chấp hành của HĐND cấp tỉnh/ thành phố và các sở ban ngành là những cơ quan chuyên môn trực thuộc. Trong quá trình hoạt động của mình, các cơ quan này đã hình thành nên một khối lượng tài liệu rất lớn, phản ánh đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan trong từng lĩnh vực cụ thể.