Chương 1. MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE HIỆN ĐẠI HÓA CÔNG TÁC LƯU TRỮ 1. Những van đề chung về công tác lưu trữ 1. Khái niệm về công tác lưu trữ Tài liệu lưu frữ (TLLT) là tài liệu có giá trị phục vụ hoạt động thực tiễn, nghiên cứu khoa học, lịch sử được lựa chọn dé lưu trữ.
Bao gồm bản gốc, bản chính; trong trường hợp không còn bản gốc, bản chính thì được thay thé băng bản sao hợp pháp (Diéu 2 Luật Lưu trữ năm 2011). Công tác lưu trữ (CTLT) là một ngành hoạt động của nhà nước (xã hội) bao gồm tất cả những vấn đề lý luận, pháp chế và thực tiễn có liên quan đến việc bảo quản và tô chức sử dụng TLLT. Như vậy CTLT bao gồm các nội dung chính sau: Một là thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến việc tô chức khoa học, tô chức sử dụng và bảo quản tài liệu, như phân loại tài liệu, xác định giá trị tài liệu, bổ sung tài liệu, thống kê tài liệu, tổ chức phòng đọc tài liệu, giới thiệu tài liệu, công bố tài liệu, xây dung các công cục tra cứu khoa học, áp dụng các biện pháp kỹ thuật bảo quản tải liệu. Hai là nghiên cứu, dự thảo các văn bản pháp quy về lưu trữ và đệ trình các cơ quan có thẩm quyền ban hành.
Ba là tổ chức quan lý đối với TLLT. Bồn là nghiên cứu khoa học về lưu trữ. Vi trí, vai trò của công tác lưu trữ. Vi trí cua công tác lưu trữ Công tác lưu trữ là việc lựa chọn, giữ lại và tô chức khoa học những văn bản, tư liệu có giá trị được hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, đơn vị, cá nhân dé làm bang chứng và tra cứu thông tin quá khứ khi cần thiết.
CTLT là một công việc không thê thiếu trong hoạt động quả lý của bộ máy nhà nước. 13 Hồ sơ TLLT được hình thành trong quá trình công tác của mỗi cơ quan gồm các công văn, tài liệu, văn kiện thuộc về khoa học kỹ thuật, phim ảnh, ảnh, file ghi âm.thật sự rất không 6n khi thiếu sự quản lý, lưu trữ các thông tin dưới dạng hồ sơ, văn bản, Tuy nhiên không phải lưu trữ các hồ sơ tất cả và mãi mãi, vì không có người, không đủ chỗ dé lưu trữ tài liệu vì vậy phải xác định được mục tiêu, đối tượng sử dụng, nhằm tổ chức hệ thống quản lý lưu trữ mang tính chất phù hợp với yêu cầu của cơ quan, đơn vị. Ở mỗi cơ quan, đơn vị phải có bộ phận hoặc phòng lưu trữ để bảo quản hồ sơ, TLLT của cơ quan, đơn vị mình tránh tình trạng hồ sơ thất lạc, hư hỏng và quan trọng hơn là phục vụ nội bộ cơ quan, cung cấp thông tin, đữ liệu khi cần, đảm bảo thông tin chính xác, kịp thời và đầy đủ. Vai trò của công tác lưu trữ Tài liệu lưu trữ là nguồn sử liệu chính xác, đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc nghiên cứu, hoạch định chính sách, chiến lược phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, phản ánh toàn bộ lịch sử hình thành, phát triển cũng như đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương.
Mỗi cơ quan, tô chức cần hiểu rõ vai trò của CTLT để bảo vệ an toàn và sử dụng TLLT một cách có hiệu quả: * Làm cơ sở thông tin phục vụ cho việc họach định và ra quyết định ở mọi cấp trong cơ quan, t6 chức. TLLT chứa đựng thông tin quá khứ, nên dù bất kỳ ở cơ quan nào lớn hay nhỏ, khi ra những quyết định quản lý, nhà quản lý sẽ căn cứ vào những thông tin, bằng chứng xác thực để giải quyết công việc và dé ra những quyết định quản lý. * Làm chứng liệu cho các quyết định và hoạt động đã thực hiện. TLLT và những thông tin có trong tài liệu là bằng chứng cho kết quả giải quyết công việc được trình bày trong những báo cáo, tổng kết.
* Góp phần tối ưu hiệu suất họat động của văn phòng (bằng các số liệu cập nhật, các báo cáo diễn biên mới nhât.); nâng cao hiệu suât công việc và 14 giải quyết xử lý nhanh chóng và đáp ứng được các yêu cầu của tổ chức, cá nhân. Hồ sơ tài liệu trở thành phương tiện theo dõi, kiểm tra công việc một cách có hệ thống, qua đó cán bộ, công chức có thể kiểm tra, đúc rút kinh nghiệm góp phần thực hiện tốt các mục tiêu quản lý: năng suất, chất lượng, hiệu quả và đây cũng là những mục tiêu, yêu cầu của cải cách nền hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay. * Chia sẻ thông tin trong nội bộ và với các mối quan hệ liên kết, đối tác. Những thông tin trong quá trình giải quyết công việc được cán bộ, nhân viên lưu trữ và đúc rút kinh nghiệm công tác, từ đó có thê chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau tạo ra các mối quan hệ xã hội.
Người đi trước sẽ có những bài học truyền đạt cho thế hệ mới và ngược lại. * Cung cấp số liệu thống kê cho cơ quan quản lý, cung cấp những tải liệu, tư liệu, số liệu đáng tin cậy phục vụ các mục đích chính trị, kinh té, văn hoá, xã hội. Đồng thời, cung cấp những thông tin quá khứ, những căn cứ, những bằng chứng phục vụ cho hoạt động quản lý của các cơ quan, tạo công cụ dé kiểm soát việc thực thi quyền lực của các cơ quan, tô chức. Góp phần giữ gìn những căn cứ, bằng chứng về hoạt động của cơ quan, phục vụ việc kiểm tra, thanh tra giám sát.
* Là nguồn tham khảo cho các chương trình nghiên cứu, phát triển. * Đáp ứng yêu cầu về lưu trữ theo quy định của pháp luật, góp phần bảo vệ bi mật những thông tin có liên quan đến cơ quan, tổ chức và các bí mật quốc gia. Dé phát huy tốt vai trò của CTLT, ngoài việc bảo quản an toan tài liệu, bảo mật thông tin trong TLLT, mỗi cơ quan, tô chức cần quan tâm đến công tác sử dụng, khai thác và phát huy giá trị của TLLT. Từ những quan điểm trên có thé thay được nếu quan tâm làm tốt công tác văn thư, lưu trữ sẽ góp phần bảo đảm cho các hoạt động của nền hành chính nhà nước được thông suốt, nâng cao hiệu quả quản lý hành chính nhà nước và thúc đây nhanh chóng công cuộc cải cách hành chính hiện nay.
15 Vì vậy, mỗi cơ quan hành chính nhà nước đều phải có nhận thức đúng dan về vị trí và vai trò của CTLT dé có thé đưa ra những biện pháp phù hợp nhằm đưa CTLT tại các cơ quan, đơn vị đi vào nề nếp và nâng cao hiệu quả quản ly của các cơ quan, đơn vi. Tuy nhiên, thời gian qua công tác văn thư lưu trữ còn bộc lộ một số hạn chế như: Lãnh đạo các cơ quan, đơn vị chưa thực sự quan tâm đến công tác quản lý và hoạt động thuộc lĩnh vực văn thư, lưu trữ; đội ngũ cán bộ làm công tác văn thư lưu trữ còn thiếu về số lượng và chưa đáp ứng yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ; việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác văn thư còn nhiều hạn chế. Nhiệm vụ của công tác lưu trữ Nhiệm vụ cơ bản, chủ yếu của CTLT, gồm ba nội dung sau: 1. Tổ chức khoa học tài liệu lưu trữ.
Tổ chức khoa học tài liệu là tổng hợp các khâu nghiệp vụ cơ bản của CTLT liên quan đến việc phân loại, xác định giá trị, quản lý và sắp xếp tài liệu một cách khoa học phục vụ cho công việc một cách thuận lợi, nhanh chóng và chính xác trong công tác tra tìm tai liệu đó. Các nội dung của tô chức khoa học tài liệu bao gồm: thu thập, bé sung tài liệu, phan loại tài liệu, xác định giá tri của tài liệu, tổ chức các công cụ dùng dé tra tìm tài liệu, chỉnh lý tài liệu và một số những công tác bổ trợ khác cho ngành khoa học, kỹ thuật, ngành tin học có liên quan. Tổ chức khoa học các tài liệu cần được thực hiện trong lưu trữ quốc gia, lưu trữ co quan hay lưu trữ cá nhân, gia đình, dong họ. Đề có thé tổ chức tốt các tài liệu liên quan đòi hỏi các cán bộ phải có trình độ chuyên môn cao, có điều kiện làm việc tốt và những trang thiết bị phục vụ cho việc thực hiện các công trình nghiệp vụ đầy đủ, khoa học và hiện đại.
Tổ chức khoa học các tài liệu được căn cứ va quy định, hướng dẫn cụ thê của các cơ quan nhà nước trong vân đê CTLT. Từ đó mà việc tô chức 16 khoa học các tài liệu cơ bản mới được đảm bảo và thống nhất trong các lưu trữ hiện hành. Đó chính là nền tảng của tô chức khoa học tài liệu trong bộ Phông lưu trữ quốc gia của nước ta. Bảo quản an toàn tài liệu lưu trữ Một trong những nhiệm vụ cơ bản nhất trong CTLT đó chính là việc bảo quản an toàn TLLT.
Đây chính là những điều kiện cơ bản để thực hiện nhiệm vụ lưu trữ bởi nếu như TLLT bị rò rỉ ra ngoài hay không được bảo quản một cách an toàn thì việc công tác tổ chức và khai thác thông tin sẽ không có hiệu quả. Bảo quản an toàn TLLT bao gồm có hai nội dung chính chủ yếu như sau: Bảo quản không hư hỏng, mất mát tài liệu khi lưu trữ và bảo quản an toản tải liệu những thông tin hiện có trong TLLT. Khi muốn bảo toàn những tài liệu an toàn không hư hỏng cần phải chú ý đến kho tàng, các điều kiện 6n định và các trang thiết bi đáp ứng day đủ, đúng yêu cầu của công tác bảo quản dành cho từng loại hình tài liệu khác nhau nhằm cố gang thực hiện các biện pháp tu bổ, bảo hiểm và phục chế nhằm mục đích kéo đài tuổi thọ của tài liệu hơn. Bên cạnh đó, việc bảo quản an toàn thông tin tài liệu, chúng ta cần chú ý đến những ý thức, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các cán bộ làm CTLT.
Hãy chú ý đến từng đối tượng độc giả đến nhằm mục đích khai thác thông tin, sử dụng tài liệu và các biện pháp công bó, giới thiệu và khai thác, sử dụng tải liệu.