Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ 1. Lý luận cơ bản về kiểm tra thuế - Khái niệm, mục đích, vai trò kiểm tra thuế * Kiểm tra thuế là việc CQT tiến hành kiểm tra tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, tài liệu trong hồ sơ thuế nhằm đánh giá sự tuân thủ pháp luật về thuế của NNT (Điều 77, Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11). Hoạt động quản lý Nhà nước chính là sự tác động có định hướng của chủ thể quản lý - CQT tới các đối tượng quản lý - đối tượng nộp thuế (ĐTNT) nhằm đạt được mục tiêu động viên một phần thu nhập quốc dân vào NSNN. Do vậy, kiểm tra thuế chính là một công đoạn và là một yếu tố cấu thành của hoạt động lãnh đạo quản lý Nhà nước của CQT.
Hoạt động quản lý của CQT bao gồm từ việc xây dựng các mục tiêu kế hoạch trong giai đoạn nhất định đến việc tổ chức để thực hiện các mục tiêu kế hoạch đó và sau cùng là tiến hành kiểm tra thuế, việc thực hiện đó như thế nào để từ đó tác động ngược trở lại từ khâu xác định chủ trương kế hoạch có hợp lý hay không nhằm đảm bảo cho hoạt động của CQT đạt được hiệu quả cao. Như vậy có thể thấy, kiểm tra thuế là một biện pháp hữu hiệu nhằm phát hiện ngăn ngừa vi phạm, giúp NNT nhận thấy luôn có một hệ thống giám sát hiệu quả tồn tại và kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm của họ. Bên cạnh việc tôn trọng kết quả tự tính, tự khai tự nộp thuế của NNT, CQT thực hiện các biện pháp giám sát hiệu quả vừa đảm bảo khuyến khích sự tuân thủ tự nguyện, vừa đảm bảo phát hiện ngăn ngừa các trường hợp vi phạm pháp luật thuế. * Mục đích của kiểm tra thuế: - Tăng cường kiểm tra, giám sát hồ sơ khai thuế của người nộp thuế nhằm chống thất thu thuế qua việc kê khai thuế; ngăn chặn và xử lý kịp thời những vi phạm về thuế.
5 - Nâng cao tính tự giác tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế trong việc thực hiện kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế. - Thực hiện cải cách hành chính trong việc kiểm tra thuế từ đó tránh gây phiền nhiễu và tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế phát triển sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ. - Nâng cao việc quản lý cán bộ kiểm tra thuế trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao làm cơ sở đánh giá phân loại cán bộ kiểm tra. * Kiểm tra thuế có một số vai trò cơ bản sau: - Kiểm tra thuế là phương tiện phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật, tội phạm nảy sinh trong hoạt động QLT.
- Với chức năng là công cụ thực hiện quản lý nhà nước, kiểm tra thuế chính là việc xem xét tại chỗ việc làm của các tổ chức, cơ quan và các cá nhân có thực hiện đúng quy định của chính sách, pháp luật về thuế không. Qua đó thực hiện các biện pháp chế tài bằng mệnh lệnh hoặc các quyết định hành chính nhằm ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật của ĐTNT. - Kiểm tra thuế đã góp phần hoàn thiện cơ chế chính sách pháp luật về thuế. Hệ thống thuế ở nước ta hiện nay bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau.
Mỗi sắc thuế điều tiết đến một số đối tượng xã hội nhất định và có những phương pháp quản lý thu khác nhau. Về cơ bản, khi mỗi sắc thuế được ban hành đều đã được nghiên cứu kỹ và chuẩn bị chu đáo nhưng do đặc điểm nền kinh tế nước ta đang trong thời kỳ chuyển đổi từ hành chính, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên không tránh khỏi những khiếm khuyết, bất cập. Chính vì vậy, kiểm tra thuế là nơi cung cấp các căn cứ, các bằng chứng cụ thể phản ánh một cách chân thực, sống động các hoạt động diễn ra trong thực tế, để phục vụ cho việc hoàn thiện, bổ sung các chính sách cho phù hợp. Thực tế cho thấy, không có hệ thống pháp luật nào có thể đảm bảo là không có khiếm khuyết.
Đây chính là nguyên nhân để các đối tượng cố tình lách luật để trục lợi cá nhân do đó kiểm tra phải phát hiện hành vi tham nhũng, tiêu cực để ngăn chặn kịp thời. 6 - Kiểm tra thuế có vai trò quan trọng trong việc cải cách thủ tục hành chính cả về quy chế và tổ chức thực hiện, giảm đến mức tối đa các thủ tục, quy chế không cần thiết gây phiền hà cho DN, tiếp thu được những kiến nghị của NNT về chính sách pháp luật về thuế để kiến nghị sửa đổi hoàn thiện hơn. * Nguyên tắc kiểm tra thuế: - Tuân thủ các quy định của pháp luật Kiểm tra thuế là kiểm tra việc thực hiện pháp luật nên phải tuân thủ pháp luật. Đây cũng là nguyên tắc cần thiết để đề cao trách nhiệm của chủ thể kiểm tra; nâng cao hiệu lực của kiểm tra thuế nhằm chặn tình trạng làm trái pháp luật.
Thực hiện đúng nguyên tắc này có nghĩa là các CQT và công chức kiểm tra thuế phải thực hiện đúng chức năng, trách nhiệm, quyền hạn mà pháp luật quy định; xem xét sự đúng, sai của các đối tượng được kiểm tra phải căn cứ vào quy định của pháp luật, không tuân theo ý kiến của bất kỳ một cơ quan hoặc cá nhân nào. Kết luận kiểm tra theo đúng quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật. - Trung thực, chính xác, khách quan Tính trung thực, chính xác, khách quan là vấn đề có tính nguyên tắc cao trong kiểm tra, đánh giá đúng thực trạng của đối tượng kiểm tra, xử lý đúng người, đúng việc, đúng pháp luật. Nguyên tắc khách quan và chính xác đòi hỏi trong hoạt động kiểm tra phải tôn trọng sự thực, đánh giá sự vật hiện tượng nghiêm túc, không suy diễn hay quy chụp một cách chủ quan, phải tiến hành công việc một các thận trọng.
Nguyên tắc trung thực đòi hỏi trong hoạt động kiểm tra phải phản ánh và đánh giá đúng bản chất của sự vật, hiện tượng; vô tư; không thiên lệch; không vì quyền lợi cá nhân; phải tỉ mỉ, cẩn thận và phải có kiến thức chuyên môn vững vàng, hiểu biết sâu rộng và sâu sát thực tiễn. - Công khai dân chủ Tính công khai trong kiểm tra thuế tức là phải thực hiện nghiêm túc, việc công khai bao gồm nhiều vấn đề cụ thể như: công khai quyết định kiểm tra, tiếp xúc công 7 khai với các đối tượng có liên quan và công khai kết luận kiểm tra. Tuy nhiên, tùy trường hợp cụ thể mà xác định phạm vi công khai và hình thức công khai cho phù hợp để đảm bảo giữ gìn bí mật quốc gia, bí mật người tố cáo, đảm bảo lợi ích của nhà nước và công dân, đảm bảo hiệu quả kiểm tra cao nhất. Dân chủ trong hoạt động kiểm tra nhằm lôi cuốn sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân, sử dụng quần chúng như là những tai mắt của lực lượng kiểm tra.
Tiếp nhận thu thập ý kiến của mọi đối tượng có liên quan, tạo điều kiện cho đối tượng kiểm tra được trình bày ý kiến của mình, nhất là khi giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. - Bảo vệ bí mật Cần quán triệt nguyên tắc này trong kiểm tra thuế là vì trong quá trình kiểm tra người làm công tác này tiếp cận với nhiều vấn đề, nhiều tài liệu liên quan đến bí mật, bí quyết kinh doanh của DN, bí mật quốc gia. Nếu để lộ thông tin cho những đối tượng không được phép biết sẽ làm thiệt hại lợi ích của quốc gia và các DN. Do vậy, họ chỉ được báo cáo cho những người có thẩm quyền biết.
- Hiệu quả Đảm bảo cho kiểm tra thuế đạt được mục đích của nó. Nguyên tắc này đòi hỏi kiểm tra thuế phải đảm bảo tính hiệu quả, nghĩa là phải có tác dụng đề phòng, ngăn ngừa những thiếu sót, vi phạm, phải đảm bảo giúp các đối tượng kiểm tra thực hiện đúng chính sách thuế. Hình thức và nội dung kiểm tra thuế 1. Các hình thức kiểm tra thuế - Kiểm tra theo kế hoạch Có hai hình thức kiểm tra thuế theo kế hoạch: + Kiểm tra thuế theo kế hoạch được tiến hành theo kế hoạch đã được phê duyệt.
Căn cứ vào nguồn lực hiện có, tình hình chấp hành pháp luật thuế trên địa bàn và mục tiêu QLT, CQT xây dựng kế hoạch kiểm tra và trình cấp thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm tra thuế được phê duyệt. 8 + Kiểm tra thuế đột xuất được tiến hành khi CQT phát hiện ĐTNT có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế, theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao. - Kiểm tra theo nội dung và phạm vi kiểm tra thuế Nếu xét theo nội dung và phạm vi, hoạt động kiểm tra thuế có hai hình thức là kiểm tra toàn diện và kiểm tra hạn chế: + Kiểm tra toàn diện là loại hình kiểm tra tổng hợp, toàn diện tình hình tuân thủ pháp luật thuế của ĐTNT. Kiểm tra toàn diện được tiến hành một cách đồng bộ đối với tất cả các sắc thuế như: TNDN, GTGT, TTĐB, TNCN và các loại thuế, phí khác trong kỳ kê khai thuế.
+ Kiểm tra hạn chế là kiểm tra trong phạm vi hẹp, gồm: * Kiểm tra một sắc thuế (GTGT, TNDN, TTĐB. ), một hoặc một số kỳ tính thuế. * Kiểm tra hồ sơ hoàn thuế, kiểm tra dự án về hạng mục chi phí hoặc một chỉ tiêu sắc thuế khi phát hiện có nghi vấn. * Kiểm tra doanh thu tính thuế, giá vốn hàng bán, chi phí khấu hao, chi phí tiền lương.
- Kiểm tra theo địa điểm tiến hành kiểm tra thuế Nếu xét theo địa điểm tiến hành kiểm tra thuế thì hoạt động kiểm tra thuế có hai hình thức là kiểm tra tại trụ sở CQT (kiểm tra tại bàn) và kiểm tra tại trụ sở NNT. + Kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế: Là công việc thường xuyên của các công chức làm nhiệm vụ kiểm tra thuế nhằm đánh giá tính đầy đủ, chính xác các thông tin trong hồ sơ khai thuế. Việc kiểm tra tại bàn có thể áp dụng đối với bất kỳ tờ khai thuế nào, bao gồm kiểm tra số học các chỉ tiêu doanh thu, thu nhập, chi phí. Kiểm tra tại bàn phạm vi kiểm tra thường hạn chế chỉ để xác minh một số vấn đề cụ thể đã được công chức rà soát tờ khai lưu ý hoặc được lưu chuyển qua các khâu (xử lý trước đó).