Chương 1 đã trình bày được lý do, tính cấp thiết của việc lựa chọn đề tài nghiên cứu là xuất phát từ tầm quan trọng của chất lượng đào tạo, chất lượng sinh viên; mục tiêu chung của xã hội, của nhà trường và của khoa Tài chính kế toán về việc cần nâng cao chất lượng giảng dạy, chất lượng đào tạo (được phản ánh cụ thể thông qua kết quả học tập của sinh viên). Trong khi đó, để thực hiện được mục tiêu này thì điều trước tiên phải xác định được nhân tố nào ảnh hưởng đến kết quả học tập, mức độ ảnh hưởng cụ thể của từng nhân tố ra sao. Chính vì vậy mà đề tài nghiên cứu hướng đến mục tiêu là tìm hiểu các nhân tố cũng như mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả học tập của sinh viên Cao đẳng chính quy khóa 14 khoa Tài chính kế toán tại trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức trong năm học 2015 – 2016. Đồng thời trong chương này cũng trình bày được mục tiêu, vấn đề, nội dung nghiên cứu; các phương pháp nghiên cứu; những đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn, cùng với điểm mới của đề tài so với các nghiên cứu trước đây.
Chương 2 sẽ tiếp tục trình bày về cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu của đề tài. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Các khái niệm nghiên cứu Sinh viên: là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng hay trung cấp chuyên nghiệp. Ở đó, họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ. Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học tập.
Quá trình học theo phương pháp chính quy, tức là họ phải trải qua bậc tiểu học và trung học (Theo bách khoa toàn thư Wikipedia) Theo quy định của trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức, sinh viên cao đẳng hệ chính quy của trường nói chung và Khoa Tài chính kế toán nói riêng là những người đã trúng tuyển kỳ thi tuyển sinh hoặc được xét tuyển và có quyết định nhập học tại trường. Mỗi sinh viên vào trường đều được cấp mã số sinh viên, thẻ sinh viên và mã số trên hệ thống mạng nhà trường trong suốt quá trình học tập tại trường. Kết quả học tập: Là điểm trung bình chung của môn học, kiến thức và kỹ năng thu nhận được của sinh viên. Đây cũng là mục tiêu quan trọng của khoa Tài chính kế toán và nhà trường.
Toàn thể lãnh đạo, giảng viên khoa cố gắng trang bị những kiến thức, thiết bị, tạo mọi điều kiện, môi trường học tập tốt nhất cho sinh viên. Trong khi đó sinh viên cũng kỳ vọng sẽ thu nhận được những kiến thức cũng như kỹ năng cần thiết để phục vụ cho quá trình làm việc và phát triển kỹ năng sự nghiệp của mình. Hiện nay, có nhiều quan điểm và cách thức để đo lường kết quả học tập của sinh viên trong học tập. James Madision University (2003); James O, Nichols (2002) “Kết quả học tập là bằng chứng sự thành công của học sinh/ sinh viên về kiến thức, kỹ năng, năng lực, thái độ đã được đặt ra trong mục tiêu giáo dục”.
8 Trường Cabrillo quan niệm về kết quả học tập của sinh viên “là kiến thức, kỹ năng và thái độ sinh viên đạt được và phát triển trong suốt khóa học. Theo Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2009), Clarke (2001) cho rằng: “Kết quả học tập có thể được đo lường thông qua việc sinh viên tự đánh giá về quá trình học và tìm kiếm việc làm” và Young (2007) “Kết quả học tập của sinh viên còn được tự chính sinh viên đánh giá về kiến thức cũng như kỹ năng mà sinh viên đó thu nhận được trong suốt quá trình học tập tại trường”. Bên cạnh đó thì “Kết quả học tập còn được đo lường thông qua điểm trung bình của môn học” (Hamer, 2000 – Trích dẫn từ Nguyễn Đình Thọ và ctg, 2009). Trong nghiên cứu này, khái niệm về kết quả học tập được sử dụng là điểm trung bình mà sinh viên đạt được trong thời gian học tập, cụ thể là điểm trung bình năm học 2015 – 2016 của sinh viên cao đẳng chính quy khóa 14 tại khoa Tài chính kế toán (đại diện cho KQHT do nhà trường đánh giá) kết hợp với những đánh giá tổng quát của chính sinh viên về kiến thức và kỹ năng thu nhận được trong quá trình học tập các môn cụ thể tại trường (Young & ctg, 2003 – trích dẫn từ Nguyễn Đình Thọ & ctg, 2009, tr.1 Phương pháp đánh giá kết quả học tập 2.1 Đánh giá học phần Học phần lý thuyết hoặc lý thuyết kết hợp thực hành: Điểm học phần được căn cứ vào một phần hoặc tất cả các điểm đánh giá bộ phận, bao gồm: điểm kiểm tra thường xuyên trong suốt quá trình học tập; điểm đánh giá nhận thức và thái độ tham gia thảo luận; điểm đánh giá phần thực hành; điểm chuyên cần; điểm thi giữa học phần; điểm tiểu luận và điểm thi kết thúc học phần, trong đó điểm thi kết thúc học phần là bắt buộc cho mọi trường hợp và có trọng số không dưới 50% (Quy chế đào tạo hệ chính quy theo học chế tín chỉ tại trường Cao đẳng CNTĐ).
Học phần thực hành: Sinh viên phải tham dự đầy đủ các bài thực hành. Trung bình cộng của điểm các bài thực hành trong học kỳ được làm tròn đến một chữ số thập phân là điểm của học phần thực hành 9 Việc lựa chọn các hình thức đánh giá bộ phận và trọng số của các điểm đánh giá bộ phận, cũng như cách tính điểm tổng hợp đánh giá học phần do trưởng bộ môn đề xuất, được Hiệu trưởng phê duyệt và được quy định trong đề cương chi tiết học phần.2 Điểm học phần Điểm đánh giá bộ phận và điểm thi kết thúc học phần được chấm theo thang điểm 10 (từ 0 đến 10), làm tròn đến một chữ số thập phân. Điểm học phần là tổng điểm của tất cả các điểm đánh giá bộ phận của học phần nhân với trọng số tương ứng. Điểm học phần cũng tính theo thang điểm 10 nhưng làm tròn đến 1 chữ số thập phân.
Loại đạt: 9,0 – 10,0 Xuất sắc 8,0 – 8,9 Giỏi 7,0 – 7,9 Khá 6,0 – 6,9 Trung bình khá 5,0 – 5,9 Trung bình 4,0 – 4,9 Trung bình yếu Loại không đạt Dưới 4,0 Yếu Đối với những học phần chưa đủ cơ sở để đưa vào tính điểm trung bình chung học kỳ, khi xếp mức đánh giá được sử dụng các ký hiệu sau: I: Chưa đủ dữ liệu đánh giá X: Chưa nhận được kết quả thi Đối với những học phần được nhà trường cho phép chuyển điểm, khi xếp mức đánh giá được sử dụng ký hiệu R viết kèm với kết quả 2.2 Cách tính điểm trung bình chung 10 Điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy được tính theo công thức sau và được làm tròn đến 2 chữ số thập phân: Trong đó: A là điểm trung bình chung học kỳ hoặc trung bình chung tích lũy ai là điểm của học phần thứ i ni là số tín chỉ của học phần thứ i n là tổng số học phần Điểm trung bình chung học kỳ để xét học bổng, khen thưởng sau mỗi học kỳ chỉ tính theo kết quả thi kết thúc học phần lần 1. Điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy để xét thôi học, xếp hạng học lực sinh viên và xếp hạng tốt nghiệp được tính theo điểm thi kết thúc học phần cao nhất trong các lần thi.3 Những mô hình xác định các yếu tố tác động đến kết quả học tập Xét về mặt tổng thể, có 3 nhóm yếu tố chính tác động đến kết quả học tập của sinh viên. Đó là: đặc điểm của người học, điều kiện gia đình và tài nguyên của nhà trường. Các nghiên cứu tập trung vào khảo sát các yếu tố tác động đến kết quả học tập của sinh viên còn ít.
Tuy nhiên, các nghiên cứu này rất đa dạng và mỗi nghiên cứu có mục tiêu và phương pháp nghiên cứu riêng. Sau đây, giới thiệu các mô hình tiêu biểu nghiên cứu các yếu tố chính tác động đến kết quả học tập của sinh viên.1 Mô hình ứng dụng của Bratti và Staffolani Theo Bratti và Staffolani (2002), kết quả học tập của sinh viên chủ yếu được xác định bởi thái độ học tập của sinh viên bởi vì sự phân bổ thời gian cho việc học tùy thuộc vào quyết định của họ. Họ có thể quyết định thời gian tối ưu dành 11 cho việc tự học và học ở lớp. Do đó, kết quả học tập của sinh viên phần lớn phụ thuộc vào thái độ học tập của họ.
Gọi Gi là kết quả học tập của sinh viên, phụ thuộc vào thời gian dành cho việc tự học (Si), thời gian học ở lớp (ai) và năng lực của người đó (ei) Gi = G(si,ai)ei Mô hình Bratti và Staffolani đưa ra mối quan hệ giữa đặc điểm của sinh viên (thời gian tự học si, thời gian học ở lớp ai, năng lực của người đó ei) với kết quả học tập (Gi) cho thấy ở mức độ hữu dụng nhất định, kết quả học tập của sinh viên tùy thuộc vào thời gian tự học, thời gian học ở lớp và năng lực của sinh viên. Theo phương pháp này, giáo dục vừa là sự tiêu dung vừa là sự đầu tư tốt. Trong khi sinh viên dành thời gian cho giáo dục đại học, thì anh ta cũng tự đầu tư vào nguồn vốn nhân lực của mình. Trong mô hình Bratti Staffolani, đặc điểm của sinh viên đóng vai trò chính là yếu tố duy nhất có mối quan hệ trực tiếp đến kết quả học tập của sinh viên.
Đây là ưu điểm của mô hình bởi vì nó nhấn mạnh vai trò của yếu tố tự học, điểm khác biệt chính của sinh viên đại học và học sinh trung học. Tuy nhiên, hạn chế của mô hình là xem nhẹ vai trò của các yếu tố bên ngoài mà nó cũng có ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên.2 Mô hình ứng dụng của Checchi et al. Mô hình này được xác định bởi Checchi & ctg (2000) nhằm dự đoán về mối quan hệ giữa đầu tư cho giáo dục của cha mẹ và kết quả học tập của con cái. Cơ sở của mô hình này là cha mẹ phải dành một phần thu nhập của mình đầu tư vào việc học tập của con cái.
Nếu việc đầu tư vào việc học cho con cái tăng lên, tiêu dùng của cha mẹ sẽ giảm đi nhưng thu nhập tương lai của con cái sẽ tăng lên.