CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm về bạo lực và bạo lực học đường 1. Bạo lực và phân loại bạo lực Khái niệm bạo lực Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): “Bạo lực là hành vi cố ý sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực hoặc quyền lực để tự hủy hoại mình, chống lại người khác hoặc một nhóm người, một tập thể cộng đồng làm họ bị tổn thương hoặc có nguy cơ bị tổn thương hoặc tử vong hoặc bị sang chấn tâm thần, ảnh hưởng đến sự phát triển của họ hoặc gây ra các ảnh hưởng khác” [63]. Định nghĩa này của WHO bao gồm cả những hành vi cố ý gây thương tích giữa người với người và hành vi tự sát cũng như các xung đột vũ trang.
Những sự kiện xảy ra ngoài ý muốn (ví dụ tai nạn giao thông hay cháy nổ) không được coi là bạo lực. Phân loại bạo lực Theo WHO (2002), bạo lực được phân loại theo phạm vi bạo lực hoặc loại hành vi bạo lực. Phạm vi bạo lực bao gồm: Bạo lực tự thân: được chia làm 2 thể chính là hành vi tự sát và ngược đãi bản thân. Thể thứ nhất bao gồm các hành vi nghĩ đến tự sát, cố gắng tự sát nhưng chưa thành và tự sát thành công.
Thể thứ hai là các hành động tự hành hạ bản thân. Bạo lực giữa các cá nhân: cũng chia làm 2 thể: Bạo lực gia đình và bạo lực tình dục: Loại hình bạo lực này rất phổ biến giữa các thành viên trong gia đình và với đối tác quan hệ tình dục, thông thường (nhưng không phải luôn luôn) xảy ra trong nhà. Loại hình bạo lực này bao gồm các hình thức như lạm dụng trẻ em, bạo lực tình dục, và hành hạ người cao tuổi. 5 Bạo lực cộng đồng: Bạo lực xảy ra giữa các cá nhân không có mối quan hệ ruột thịt, có thể quen biết hoặc không quen biết nhau trước đây, thường xảy ra ở ngoài.
Loại hình bạo lực này bao gồm bạo lực ở giới trẻ, các hành động bạo lực ngẫu hứng, hiếp dâm hoặc quấy rối tình dục bởi người lạ và các hành động bạo lực xảy ra tại các cơ quan như trường học, công sở, trại giam… Bạo lực giữa các nhóm, tập thể: Bạo lực này chia làm 3 thể là bạo lực xã hội, bạo lực chính trị, và bạo lực kinh tế. Không giống với 2 loại bạo lực trên, các loại hình bạo lực này thường có động cơ rõ ràng bởi số lượng lớn các cá nhân hoặc của một tổ chức nào đó. Chính vì hành động bạo lực này gây ra bởi nhiều cá nhân nên hình thức và diễn biến vô cùng phức tạp. Loại hành vi bạo lực bao gồm: - Bạo lực thể chất - Bạo lực tình dục - Bạo lực tinh thần - Kỳ thị/phân biệt đối xử/hắt hủi/xa lánh/thờ ơ 1.
Bạo lực học đường và phân loại bạo lực học đường Khái niệm bạo lực học đường Theo Trung tâm kiểm soát chấn thương Hoa Kỳ (CDC), Bạo lực học đường là một phần thuộc bạo lực giới trẻ, xảy ra ở những người trong độ tuổi từ 10-24 tuổi [18]. Một số hành vi bạo lực bao gồm bắt nạt, tát, đánh – thường gây tổn hại về tâm lý nhiều hơn so với thể chất. Một số hình thức khác như bạo lực băng đảng và tấn công vũ lực (có hoặc không sử dụng vũ khí) có thể dẫn đến những chấn thương nghiêm trọng, thậm chí tử vong [22]. 6 Trường hợp bạo lực học đường: được định nghĩa là các hành vi bạo lực ở giới trẻ, xảy ra trong khuôn viên nhà trường, trên đường tới trường hoặc từ trường về, và trong các hoạt động do nhà trường tổ chức [22].
Bắt nạt học đường [40]: là một hành động đối xử thô bạo trong giới học sinh với nhau. Các hành vi bắt nạt bao gồm từ các hành động bạo lực về thể chất (đá, xô đẩy) cho đến việc sử dụng lời nói (đặt tên hay đe dọa), và bạo lực tinh thần như gây lời đồn, xa lánh/cô lập. Phân loại bạo lực học đường Trong khuôn khổ nghiên cứu này, bạo lực học đường được phân loại dựa trên phân loại của một số nghiên cứu trên thế giới [35, 62], trong đó bạo lực học đường được chia thành 4 nhóm sau: - Bạo lực thể chất: bao gồm các hành vi như đánh, đấm, đá, đẩy, tát, dứt tóc, kéo tai, xé quần áo, trấn lột, cướp đồ vật của một/một nhóm học sinh khác; - Bạo lực bằng lời nói: bao gồm các hành vi như gán/gọi biệt danh (mang ý nghĩa xấu), chế nhạo làm tổn thương nhau, sỉ nhục, dùng lời nói đe doạ/ép buộc một/một nhóm học sinh khác làm theo ý mình; - Bạo lực xã hội: bao gồm các hành vi như phân biệt đối xử, cô lập, tẩy chay, tạo/phát tán tin đồn (mang ý nghĩa xấu) cho một/một nhóm học sinh khác; - Bạo lực điện tử: bao gồm các hành vi như nhắn tin, gọi điện để uy hiếp đe doạ/ép buộc một/một nhóm học sinh khác làm theo ý mình, sử dụng email, ảnh cá nhân để uy hiếp, đe doạ, ép buộc một/một nhóm học sinh khác làm theo ý mình, lập/tham gia các hội trên mạng để cô lập/tẩy chay một/một nhóm học sinh khác. Như vậy, trong phạm vi nghiên cứu này, khái niệm bắt nạt/bạo lực học đường được hiểu là bắt nạt/bạo lực giữa các học sinh/nhóm học sinh với nhau, xảy ra trong khuôn viên nhà trường, trên đường tới trường hoặc từ trường về hoặc trong các hoạt động do 7 nhà trường tổ chức, bao gồm các hành vi bạo lực về thể chất (đánh, đấm, đá, đẩy, tát), bạo lực bằng lời nói (sỉ nhục, gán ghép biệt danh xấu), bạo lực về các mối quan hệ xã hội (cô lập, tẩy chay) và bạo lực điện tử (dùng tin nhắn, mạng xã hội… đe dọa, ép buộc, tẩy chay).
Khái niệm này không đề cập đến hành vi bạo lực giữa giáo viên đối với học sinh và ngược lại. Thực trạng bạo lực học đường trên thế giới và tại Việt Nam 1. Bạo lực học đường trên thế giới Theo ước tính của WHO, trung bình trên thế giới mỗi ngày có khoảng 565 trẻ em và thanh thiếu niên trong độ tuổi từ 10-29 tử vong do các nguyên nhân liên quan đến bạo lực. Đi đôi với mỗi vụ tử vong do bạo lực trong giới trẻ, trung bình có từ 20-40 nạn nhân phải nhập viện do chấn thương.
Các loại súng, súng ngắn là vũ khí được sử dụng phổ biến trong các vụ bạo lực gây tử vong; trong khi đó, với các vụ bạo lực có mức độ nhẹ hơn, các hình thức thường được sử dụng bao gồm đấm, đá, và một số loại vũ khí khác như dao, gậy, dùi cui [64]. Một điều tra cắt ngang trên 161.082 học sinh ở 35 quốc gia Bắc Mỹ và Châu Âu năm 2005 đã cho kết quả đánh nhau là loại hình bạo lực phổ biến nhất tại đây. Cụ thể, có khoảng 37%-69% nam sinh từng tham gia vào các vụ ẩu đả trong vòng một năm trước thời điểm nghiên cứu, và tỷ lệ này ở nữ sinh dao động trong khoảng 13%-32%. Nghiên cứu cũng chỉ ra một số loại vũ khí nguy hiểm thường được các học sinh tại đây sử dụng, bao gồm: dao, súng ngắn, dùi cui điện, và bình xịt hơi cay [49].
Tại Thổ Nhĩ Kỳ, kết quả điều tra trên 692 học sinh từ 5 trường THPT thuộc Ankara năm 2005 cho thấy toàn bộ các em đều từng là nạn nhân của bạo lực học đường ít nhất một lần trong vòng một năm trước nghiên cứu. Các hình thức chủ yếu gồm có bạo lực bằng lời nói (33,5%), bạo lực thể chất (35,5%), bạo lực tinh thần (28,3%), và bạo lực tình dục (19,6%). Có sự khác biệt rõ ràng giữa hai giới về các hình thức bạo lực, trong đó, tỷ lệ nam sinh thực hiện các hành vi đấm đá, tát, hành dung bằng dao cao hơn nữ 8 sinh; các hình thức bạo lực/bắt nạt khác phổ biến ở cả hai giới gồm trêu chọc thô lỗ, đặt tên/biệt danh, chửi bới, nhục mạ [35]. Một nghiên cứu khác cùng tiến hành trong nhóm học sinh THPT tại Thổ Nhĩ Kỳ năm 2011 cũng cho kết quả tương tự khi một tỷ lệ rất cao (83%) học sinh báo cáo từng liên quan đến các hành vi bạo lực và bắt nạt trong trường học, trong đó, có 17% là nằm trong vòng quay của bạo lực (violence/bullying cycle) nghĩa là từng là nạn nhân của bạo lực và sau đó đi thực hiện hành vi bạo lực với các học sinh khác [15].
Nước Mỹ là quốc gia mà bạo lực xảy ra hàng ngày, trong đó có bạo lực học đường. Mặc dù các trường hợp tử vong do bạo lực học đường đã có xu hướng giảm trong thập niên 90 [43], nhưng sự quan tâm của dư luận với vấn đề an toàn trong trường học vẫn không hề suy giảm, thậm chí có chiều hướng gia tăng [14]. Kết quả từ cuộc khảo sát hành vi nguy cơ ở giới trẻ tại Mỹ năm 2003 cho thấy đánh nhau xuất hiện phổ biến ở học sinh THPT với 40,5% nam sinh và 25,1% nữ sinh trong vòng 1 năm trước thời điểm tiến hành nghiên cứu [19]. Năm học 2005-2006, có khoảng 23% học sinh tham gia các băng nhóm tại trường và trong đó, 38% các trường công lập đã có ít nhất một vụ bạo lực cần phải có sự can thiệp của cảnh sát [41].
Theo kết quả một cuộc khảo sát khác về hành vi nguy cơ ở giới trẻ của CDC năm 2009, có 31,5% học sinh đã tham gia đánh nhau ít nhất 1 lần và 7,7% học sinh đã từng bị đe dọa hay bị thương ít nhất một lần do những trận tấn công có vũ khí gây ra trong vòng 1 năm trước thời điểm tiến hành điều tra [20]. Tại Nam Phi, năm 2007, một nghiên cứu tiến hành trên 5074 học sinh (lớp 8 và lớp 11) tại hai thành phố Cape Town và Durban đã cho kết quả hơn một phần ba số học sinh tham gia nghiên cứu (36,3%) từng liên quan đến các hành vi bạo lực. Trong đó, 8,2% là đối tượng bắt nạt, 19,3% là nạn nhân. 8,7% số còn lại là những học sinh vừa bị bắt nạt, đồng thời cũng đi bắt nạt người khác, tập trung chủ yếu ở các nam sinh, đặc biệt là các nam sinh lớn tuổi hơn [36].
Bạo lực học đường tại Việt Nam Tại Việt Nam, bạo lực học đường diễn biến ngày một phức tạp. Theo thống kê của Cục cảnh sát điều tra về trật tự xã hội, từ năm 2003 đến nay, trung bình mỗi năm xảy ra khoảng 10.