Chương 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN NHÀ NƢỚC ĐẦU TƢ VÀO DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH 1. Khái quát về vốn nhà nƣớc đầu tƣ vào doanh nghiệp 1. Khái niệm vốn Theo Từ điển Luật học, vốn là tiền, tài sản, quyền tài sản trị giá được thành tiền có thể sử dụng trong kinh doanh, khả năng sử dụng được trong kinh doanh là tiêu chí cơ bản để đánh giá tiền, tài sản, quyền tài sản trị giá được thành tiền có giá trị là vốn, đối với tiền phải tích tụ đến mức nhất định thì mới có thể sử dụng trong kinh doanh với tư cách là vốn, đối với tài sản nếu chỉ thuần túy có giá trị và giá trị sử dụng mà không có khả năng chuyển đổi thành tiền và sử dụng trong kinh doanh thì cũng không có giá trị là vốn, đối với các quyền tài sản, nếu không có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt để hạch toán trong kinh doanh thì không thể dùng để đầu tư nên cũng không được xem là vốn. Vốn là tiền để thực hiện các hoạt động đầu tư, cơ chế hình thành vốn và sử dụng vốn của các tổ chức, cá nhân được quy định trong nhiều văn bản pháp luật như: Luật ngân sách nhà nước, Luật doanh nghiệp, Bộ luật dân sự [45, tr.
Vốn là điều kiện cần thiết để tiến hành hoạt động kinh doanh [37, tr. Vốn trong doanh nghiệp có thể là vốn góp của chủ sở hữu hoặc vốn nợ. Vốn của chủ sở hữu hình thành từ vốn góp khi thành lập doanh nghiệp và gia tăng từ lợi nhuận sau thuế trong quá trình kinh doanh, theo Luật doanh nghiệp 2005, để bắt đầu hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải đăng ký kinh doanh, trong đó có đăng ký về vốn điều lệ. Vốn điều lệ do các sáng lập viên góp hoặc cam kết góp khi thành lập doanh nghiệp.
Vốn điều lệ là tổng giá trị bằng tiền của tổng tài sản ban đầu góp vào doanh nghiệp, vốn này có thể tồn 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tại dưới dạng tài sản cố định hữu hình, tài sản vô hình và tiền mặt v., được sử dụng để sản xuất hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ. Trong quá trình kinh doanh khoản lợi nhuận phát sinh bằng chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí sẽ làm tăng vốn của chủ sở hữu và được sử dụng để trích lập một số quỹ từ lợi nhuận sau thuế ngoài vốn điều lệ ban đầu. Vốn của chủ sở hữu Theo quy định tại Điều 17 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001: phần vốn và tài sản do nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp thuộc sở hữu toàn dân, quy định này chỉ ra quyền sở hữu toàn dân đối với vốn và tài sản góp vào xí nghiệp, doanh nghiệp mà không xác định quyền sở hữu toàn dân đối với doanh nghiệp. Khi nhà nước đầu tư thành lập doanh nghiệp, vốn của chủ sở hữu ban đầu được xác định dựa trên quyết định giao vốn để hình thành vốn điều lệ của doanh nghiệp.
Trong trường hợp vốn điều lệ chưa được góp đủ thì vốn của chủ sở hữu là vốn thực góp của nhà nước. Ngoài nguồn vốn trên, doanh nghiệp có thể được quản lý, sử dụng đất đai và các tài sản khác do nhà nước giao, những tài sản này được doanh nghiệp sử dụng trong quá trình kinh doanh, đây chính là lợi thế kinh doanh về tài sản của các công ty nhà nước so với các công ty khác không được giao quản lý vốn và tài sản của nhà nước. Tùy thuộc cấu trúc sở hữu và loại hình doanh nghiệp mà sự hình thành vốn của chủ sở hữu trong các doanh nghiệp có các đặc trưng khác biệt: theo pháp luật hiện hành, nhà nước có thể góp 100% vốn điều lệ để thành lập công ty một thành viên, theo đó, pháp nhân công ty một thành viên nhà nước có vốn của chủ sở hữu nhà nước, vốn điều lệ được tách bạch với vốn và tài sản khác của doanh nghiệp do được nhà nước cho vay, giao hoặc cho thuê. Vốn điều lệ trong công ty cổ phần được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
Tại thời điểm thành lập, các cổ đông sáng lập thỏa thuận trong hợp đồng góp 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vốn thành lập công ty về số cổ phần dự định phát hành số cổ phần nắm giữ của các cổ đông sáng lập. Về bản chất, phát hành cổ phần là hành vi pháp lý nhằm tạo lập vốn điều lệ. Vốn điều lệ hình thành bằng tiền bán cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi theo nghị quyết của đại hội đồng cổ đông. Trong quá trình kinh doanh, vốn chủ sở hữu có thể gia tăng bằng việc trích lập các quỹ từ lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp.
Vốn điều lệ có thể tăng lên theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền về chuyển phần lợi nhuận dựa trên phần vốn của nhà nước hoặc điều chuyển vốn từ doanh nghiệp khác, hoặc chuyển từ Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp do Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn của nhà nước quản lý và sử dụng theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp công ty một thành viên nhà nước kinh doanh có lãi, phần lợi nhuận được phân chia theo vốn công ty tự huy động và phần vốn đầu tư của nhà nước. Có thể thấy, lợi nhuận phát sinh từ hoạt động kinh doanh của công ty một thành viên nhà nước có thể làm gia tăng lợi ích của chủ sở hữu nhà nước trong hoạt động đầu tư và làm gia tăng vốn của chủ sở hữu tại công ty một thành viên nhà nước thông qua quyết định tăng vốn điều lệ của công ty bằng lợi nhuận để lại của nhà nước. Phần lợi nhuận phát sinh từ phần vốn tự huy động được sử dụng để trích lập các quỹ làm gia tăng vốn chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp, chẳng hạn, công ty một thành viên nhà nước có quyền trích lập quỹ đầu tư phát triển, quỹ rủi ro, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi.
Các quỹ đầu tư phát triển và quỹ rủi ro hình thành từ lợi nhuận trong kinh doanh thuộc sở hữu của công ty một thành viên nhà nước và thuộc chủ sở hữu nhà nước nói chung. Trong CTCP, vốn của chủ sở hữu có thể tăng lên từ khoản thặng dư vốn phát sinh. Trường hợp công ty phát hành cổ phần và bán theo phương thức đấu giá, ngoài khoản tiền thu được khoản chênh lệch giữa giá thị trường và mệnh giá. Theo hướng dẫn của Bộ tài chính thì khoản chênh lệch 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com này được gọi là thặng dư vốn.
Mặc dù khoản thặng dư này không được tính trong vốn điều lệ tại thời điểm thu tiền bán cổ phần nhưng là một bộ phận cấu thành vốn của chủ sở hữu. Vốn nợ của doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động, ngoài sử dụng vốn của chủ sở hữu, doanh nghiệp phải tạo lập các nguồn vốn khác từ phát hành trái phiếu vay ngân hàng hoặc các tổ chức, cá nhân khác để mở rộng đầu tư hoặc bổ sung vốn lưu động, đây gọi là vốn nợ, cả vốn của chủ sở hữu và vốn nợ đều tạo nên tài sản của doanh nghiệp. Vốn nợ là vốn mà doanh nghiệp vay các tổ chức, cá nhân hoặc mua chịu hàng hóa hoặc dịch vụ của đối tác, thông thường, các doanh nghiệp có thể vay tổ chức tín dụng, chiết khấu giấy tờ có giá tại tổ chức tín dụng, hoặc được ứng tiền qua tài khoản. Ngoài ra, doanh nghiệp có thể vay của các doanh nghiệp, công ty bảo hiểm, các tổ chức, cá nhân khác thông qua hợp đồng vay hoặc phát hành trái phiếu [24, tr.
Về nguyên tắc, doanh nghiệp có thể vay vốn để bổ sung vốn hoạt động hoặc đầu tư dự án, vốn vay dài hạn trên một năm thường được dùng để đầu tư vào tài sản cố định, còn vốn vay ngắn hạn dưới một năm dùng để bổ sung vốn lưu động. Trên thực tế, khoản vay chủ yếu của doanh nghiệp là vay từ ngân hàng thương mại. Tùy từng trường hợp ngân hàng thương mại có thể buộc doanh nghiệp vay phải có tài sản bảo đảm, doanh nghiệp có thể sử dụng tài sản của chính mình để bảo đảm cho khoản vay hoặc nhận bảo lãnh của các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng khác để vay vốn từ các ngân hàng thương mại. Ngoài ra doanh nghiệp có thể thỏa thuận vay vốn từ các tổ chức, cá nhân khác để huy động vốn, thỏa thuận vay phải tuân thủ các quy định của Bộ luật dân sự trong đó có quy định về giới hạn lãi suất cho vay.
Bên cạnh đó, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com doanh nghiệp có thể huy động vốn bằng phát hành trái phiếu, đây là hình thức áp dụng phổ biến ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. ở nước ta, hình thức phát hành này thường được các doanh nghiệp có uy tín thực hiện, trong phát hành trái phiếu, doanh nghiệp chủ động quyết định khoản vay, mệnh giá trái phiếu, lãi suất vay trên cơ sở pháp luật. Việc phát hành trái phiếu phải đáp ứng các điều kiện phát hành theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi của người sở hữu trái phiếu. Cũng giống như vay vốn từ ngân hàng, vấn đề đảm bảo khả năng hoàn trả vốn vay đặt ra, theo đó doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu có bảo đảm bằng tài sản của chính doanh nghiệp của mình hoặc được bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba.
Khái niệm vốn nhà nƣớc Vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp có những đặc điểm chung của vốn kinh doanh và có những đặc điểm riêng của vốn thuộc sở hữu nhà nước. Những đặc điểm chung của vốn kinh doanh là: vốn là một loại hàng hóa đặc biệt; vốn phải đại diện cho một lượng tài sản thực; vốn được biểu hiện bằng tiền dùng vào đầu tư, kinh doanh với mục đích sinh lời; vốn luôn gắn liền với chủ sở hữu nhất định. Chủ sở hữu vốn trong các doanh nghiệp là những người đầu tư vốn để hình thành hoặc phát triển mở rộng doanh nghiệp. Tùy theo từng loại hình doanh nghiệp khác nhau mà chủ thể sở hữu trong doanh nghiệp có thể khác nhau.
Sự khác biệt giữa vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp với vốn đầu tư của các chủ sở hữu khác chính là ở đặc điểm sở hữu nhà nước của vốn. so với các chủ thể sở hữu khác, chủ thể sở hữu nhà nước có những đặc điểm khác biệt.