Tổng quan nghiên cứu

Khu vực doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt đối với nền kinh tế quốc dân khi nắm giữ nguồn vốn sản xuất kinh doanh lên tới 9,5 triệu tỷ đồng vào năm 2017, chiếm 28,8% tổng nguồn vốn của toàn bộ cộng đồng doanh nghiệp tại Việt Nam. Đồng thời, khối doanh nghiệp này đóng góp bình quân 32,1% tổng thu ngân sách nhà nước từ khu vực sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, hiệu quả vận hành và công tác quản lý nguồn vốn nhà nước tại các đơn vị này vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu bình quân của khối doanh nghiệp nhà nước năm 2017 đã lên tới 4,1 lần, cao gấp 1,64 lần so với mức bình quân toàn quốc là 2,5 lần, trong khi vòng quay vốn chỉ đạt mức khiêm tốn 0,3 lần.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài tập trung vào sự bất cập trong hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ quản lý, sử dụng vốn nhà nước, tình trạng lúng túng trong phân định chức năng đại diện chủ sở hữu, và sự thiếu chặt chẽ trong cơ chế giám sát tài chính dẫn đến nguy cơ thất thoát hàng ngàn tỷ đồng. Luận văn hướng tới mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng quy định pháp luật cùng kết quả thi hành, từ đó xác lập các luận cứ khoa học nhằm đề xuất giải pháp hoàn thiện hành lang pháp lý và nâng cao hiệu lực thực thi.

Phạm vi nghiên cứu bao quát hệ thống pháp luật Việt Nam và thực tiễn quản lý vốn tại các doanh nghiệp nhà nước trên phạm vi toàn quốc giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2019, với trọng tâm là bộ số liệu thống kê tổng hợp giai đoạn 2011-2017. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp các giải pháp định lượng giúp kéo giảm rủi ro tài chính, tăng cường tính minh bạch và tối ưu hóa hiệu quả sử dụng nguồn vốn công quy mô lớn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng của hai lý thuyết kinh tế - luật học cốt lõi: Lý thuyết đại diện (Agency Theory) và Lý thuyết quản trị công mới (New Public Management). Lý thuyết đại diện giải thích sự xung đột lợi ích và bất cân xứng thông tin giữa chủ sở hữu nhà nước với người trực tiếp điều hành doanh nghiệp, nơi người quản lý có thể ưu tiên lợi ích cá nhân hơn mục tiêu bảo toàn vốn công. Lý thuyết quản trị công mới định hướng việc áp dụng các nguyên tắc thị trường, cơ chế hạch toán minh bạch và phân quyền quản trị hiện đại vào khu vực công.

Khung nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm pháp lý then chốt gồm:

  • Doanh nghiệp nhà nước theo Luật Doanh nghiệp 2014 là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
  • Vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp 2014 (Luật số 69/2014/QH13), bao gồm vốn ngân sách cấp, vốn hình thành từ quỹ đầu tư phát triển và các nguồn vốn hợp pháp khác.
  • Quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước với nguyên tắc tách bạch giữa quản lý hành chính công và quyền tài sản.
  • Bảo toàn và phát triển vốn thông qua các công cụ trích lập dự phòng rủi ro, bù lỗ và hạch toán khấu hao tài sản.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp quy mô lớn được trích xuất từ Sách trắng Doanh nghiệp 2019 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Báo cáo kiểm toán nhà nước giai đoạn 2011-2016, và các báo cáo giám sát của Quốc hội. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 2.486 doanh nghiệp nhà nước có kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2017 (trong đó có 1.204 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước), cùng 19 tập đoàn, tổng công ty thuộc quyền quản lý của Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Phương pháp chọn mẫu toàn diện được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện tuyệt đối cho toàn bộ khu vực kinh tế nhà nước, tránh sai số do chọn mẫu ngẫu nhiên. Về phân tích, tác giả kết hợp phương pháp phân tích luật học định tính để mổ xẻ cấu trúc 5 nhóm quy phạm pháp luật với phương pháp phân tích tài chính định lượng. Lý do lựa chọn kết hợp phương pháp này nhằm đối chiếu trực tiếp giữa các chuẩn mức pháp lý (như trần nợ vay 3 lần vốn chủ sở hữu) với các chỉ số tài chính thực tế (ROA 2,2%, ROE 11,4%), từ đó nhận diện chính xác các kẽ hở lập pháp trong suốt tiến trình nghiên cứu từ năm 2011 đến năm 2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng mang tính hệ thống về bức tranh quản lý vốn nhà nước:

Thứ nhất, hệ số đòn bẩy nợ của khối doanh nghiệp nhà nước duy trì ở mức báo động. Đến năm 2017, chỉ số nợ trên vốn chủ sở hữu đạt 4,1 lần, cao gấp 1,64 lần mức trung bình 2,5 lần của toàn bộ doanh nghiệp cả nước. Con số này đã vượt xa trần an toàn quy định tại Khoản 3 Điều 23 Luật số 69/2014/QH13 (tối đa không quá 3 lần vốn chủ sở hữu). Tổng nợ phải trả của khối này năm 2016 là 1.649 nghìn tỷ đồng, tăng 26% so với mốc 1.400 nghìn tỷ đồng của năm 2011.

Thứ hai, hiệu suất khai thác tài sản và vòng quay vốn còn nhiều hạn chế. Chỉ số vòng quay vốn năm 2017 của doanh nghiệp nhà nước chỉ đạt 0,3 lần, thấp hơn 57% so với mức trung bình 0,7 lần của toàn bộ nền kinh tế. Hiệu suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) của khối chỉ đạt 2,2%, thấp hơn 24% so với mức bình quân 2,9% của cộng đồng doanh nghiệp nói chung.

Thứ ba, ghi nhận nghịch lý về tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu và mức đóng góp ngân sách vượt trội. Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) của doanh nghiệp nhà nước năm 2017 đạt 11,4% (khối 100% vốn đạt 10,6%), cao hơn 11% so với mức bình quân 10% của toàn quốc. Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu (ROS) đạt 6,4%, cao hơn 27% so với mức chung 4,2%. Tổng lợi nhuận trước thuế tạo ra đạt 200,9 nghìn tỷ đồng (chiếm 22,9% toàn quốc). Mức nộp ngân sách bình quân đạt 104 tỷ đồng trên mỗi doanh nghiệp nhà nước, cao gấp 5,7 lần khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (18 tỷ đồng) và cao gấp 104 lần khối doanh nghiệp tư nhân trong nước (1 tỷ đồng).

Thứ tư, công tác quản lý tài sản cố định và đất đai còn tồn tại nhiều sai phạm. Giai đoạn 2011-2016, nhiều tập đoàn để xảy ra tình trạng đất đai bị lấn chiếm, tranh chấp, sử dụng sai mục đích và chưa hoàn thành nghĩa vụ tài chính với ngân sách nhà nước.

Thảo luận kết quả

Các số liệu phân tích có thể được mô hình hóa trực quan qua bảng đối chiếu các chỉ số tài chính (ROA, ROE, ROS, Vòng quay vốn) và biểu đồ cột so sánh nghĩa vụ nộp ngân sách giữa ba khu vực kinh tế: Doanh nghiệp nhà nước, Doanh nghiệp tư nhân và Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Kết quả thảo luận khẳng định: Việc chỉ số ROE và ROS của doanh nghiệp nhà nước cao hơn mặt bằng chung không đồng nghĩa với năng lực cạnh tranh vi mô vượt trội, mà chủ yếu bắt nguồn từ lợi thế độc quyền tự nhiên, ưu đãi tiếp cận nguồn vốn rẻ và việc hoạt động trong các lĩnh vực có biên lợi nhuận cao ít bị cạnh tranh. Ngược lại, chỉ số ROA ở mức thấp (2,2%) phản ánh sự lãng phí lớn trong việc tích lũy tài sản cố định nhưng khai thác kém hiệu quả. Phát hiện này hoàn toàn tương đồng với các công trình nghiên cứu của Phạm Thị Thanh Hòa (năm 2012) và Nguyễn Thị Minh Phương (năm 2018), đồng thời làm rõ thêm nguyên nhân sâu xa từ sự phân tán quyền lực đại diện chủ sở hữu giữa các Bộ ngành chủ quản và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trước khi Ủy ban Quản lý vốn nhà nước ra đời năm 2018.

Đề xuất và khuyến nghị

Để khắc phục triệt để các tồn tại trên, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, hoàn thiện phân định thẩm quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước. Quốc hội và Chính phủ cần khẩn trương sửa đổi Luật số 69/2014/QH13 và Nghị định 10/2019/NĐ-CP theo hướng chuyển giao toàn diện chức năng đại diện chủ sở hữu từ các Bộ quản lý ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Mục tiêu đặt ra là quản lý thống nhất 100% các tập đoàn, tổng công ty lớn (bao gồm khối tài sản 1,5 triệu tỷ đồng và 820.000 tỷ đồng vốn nhà nước của 19 đơn vị nòng cốt), hoàn thành trước năm 2023.

Thứ hai, thiết lập cơ chế giám sát tài chính và siết chặt kỷ luật an toàn vốn. Bộ Tài chính cần ban hành quy chế cảnh báo sớm theo tinh thần Nghị định 87/2015/NĐ-CP, áp dụng chỉ tiêu bắt buộc nhằm đưa tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu từ mức 4,1 lần hiện nay về dưới ngưỡng an toàn 3,0 lần trong lộ trình 3 năm. Đồng thời, quy định rõ trách nhiệm bồi hoàn tài sản cá nhân đối với Chủ tịch Hội đồng thành viên và Tổng giám đốc khi để phát sinh nợ quá hạn hoặc làm thất thoát vốn công.

Thứ ba, minh bạch hóa quy trình thoái vốn đầu tư ngoài ngành và quản lý đất đai. Doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện 100% giao dịch thoái vốn thông qua đấu giá công khai trên thị trường chứng khoán. Việc định giá khởi điểm phải tính đúng, tính đủ giá trị quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai, hạn chế thất thoát vốn nhà nước trong hoạt động chuyển nhượng dự án xuống dưới mức 0,5%.

Thứ tư, đổi mới chính sách tiền lương gắn chặt với hiệu quả bảo toàn vốn. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cần sửa đổi Nghị định 51/2016/NĐ-CP và Nghị định 52/2016/NĐ-CP, chuyển cơ chế trần lương cơ bản (36 triệu đồng/tháng của người quản lý) sang cơ chế thưởng theo kết quả kinh doanh, gắn trực tiếp với mục tiêu nâng chỉ số ROA từ 2,2% lên tối thiểu 3,5% mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Nhóm thứ nhất là các cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách (Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp). Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng từ 2.486 doanh nghiệp và hệ thống lập luận vững chắc để phục vụ công tác sửa đổi, bổ sung Luật số 69/2014/QH13.

Nhóm thứ hai là Hội đồng thành viên, Ban Tổng giám đốc và Kiểm soát viên tại các doanh nghiệp nhà nước. Luận văn cung cấp cẩm nang thực hành về quy trình thiết lập quy chế quản lý tài chính nội bộ, kiểm soát tỷ lệ an toàn nợ dưới 3 lần và phương pháp bảo toàn vốn hiệu quả.

Nhóm thứ ba là các chuyên gia nghiên cứu, giảng viên và học viên sau đại học chuyên ngành Luật Kinh tế, Tài chính công và Quản trị kinh doanh. Công trình là nguồn tài liệu học thuật giá trị với khung lý thuyết đa chiều và chuỗi số liệu tài chính chi tiết từ năm 2011 đến 2017.

Nhóm thứ tư là các đơn vị tư vấn tài chính, tổ chức định giá và nhà đầu tư tham gia vào quá trình cổ phần hóa, mua bán nợ. Luận văn giúp nhận diện chuẩn xác các rủi ro pháp lý liên quan đến định giá quyền sử dụng đất và chuyển nhượng vốn đầu tư ngoài ngành.

Câu hỏi thường gặp

Theo quy định pháp luật hiện hành, mức trần huy động vốn vay của doanh nghiệp nhà nước được giới hạn như thế nào? Khoản 3 Điều 23 Luật số 69/2014/QH13 quy định rõ tổng số nợ phải trả (bao gồm cả các khoản bảo lãnh đối với công ty con) của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ không được vượt quá 3 lần vốn chủ sở hữu nhằm hạn chế rủi ro mất khả năng thanh toán.

Tại sao chỉ số ROA của doanh nghiệp nhà nước thấp nhưng ROE và ROS lại cao hơn bình quân toàn quốc? Chỉ số ROA đạt mức 2,2% (thấp hơn 24% so với mặt bằng chung) do khối tài sản cố định quá lớn nhưng khai thác kém hiệu quả. Tuy nhiên, ROE (11,4%) và ROS (6,4%) ở mức cao nhờ vị thế độc quyền ngành, chi phí vốn thấp và các ưu đãi đặc thù từ Nhà nước.

Quy mô tài sản và vốn mà Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp tiếp nhận quản lý là bao nhiêu? Theo Nghị định 131/2018/NĐ-CP và Quyết định 09/2018/NQ-CP, Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp được giao quyền đại diện chủ sở hữu tại 19 tập đoàn, tổng công ty lớn với quy mô tổng tài sản khoảng 1,5 triệu tỷ đồng và 820.000 tỷ đồng vốn nhà nước.

Mức nộp ngân sách bình quân của một doanh nghiệp nhà nước so với khối doanh nghiệp khác có sự chênh lệch ra sao? Theo số liệu thống kê, nghĩa vụ nộp ngân sách bình quân của một doanh nghiệp nhà nước đạt 104 tỷ đồng/năm, vượt trội hoàn toàn so với mức 18 tỷ đồng/năm của khối doanh nghiệp FDI và 1 tỷ đồng/năm của khối doanh nghiệp tư nhân trong nước.

Pháp luật quy định những phương thức nào khi chuyển nhượng vốn đầu tư ngoài ngành của doanh nghiệp nhà nước? Việc chuyển nhượng vốn đầu tư phải ưu tiên thực hiện trên sàn giao dịch chứng khoán. Nếu chưa niêm yết, doanh nghiệp phải đấu giá công khai; trường hợp đấu giá không thành công mới chuyển sang chào bán cạnh tranh và cuối cùng là phương thức thỏa thuận nhằm bảo toàn vốn tối đa.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện khung lý thuyết về quản lý vốn công và làm rõ các đặc trưng pháp lý của doanh nghiệp nhà nước theo Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật số 69/2014/QH13.
  • Công trình đã phân tích thực trạng tài chính của 2.486 doanh nghiệp nhà nước, chỉ rõ sự gia tăng quy mô nguồn vốn lên 9,5 triệu tỷ đồng cùng mức đóng góp ngân sách nhà nước đạt 32,1%.
  • Nghiên cứu chỉ ra các rủi ro đòn bẩy nghiêm trọng với tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu ở mức 4,1 lần và hiệu suất tài sản ROA chỉ đạt 2,2%, cảnh báo nguy cơ mất cân đối dòng tiền.
  • Luận văn đánh giá sự chuyển giao lịch sử 19 tập đoàn, tổng công ty với 1,5 triệu tỷ đồng tài sản sang Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhằm tách bạch quyền chủ sở hữu.
  • Đưa ra 4 nhóm kiến nghị cụ thể về hoàn thiện luật, kiểm soát trần nợ, định giá đất công và đổi mới chính sách lương thưởng theo hiệu quả kinh doanh.

Trong giai đoạn tiếp theo, việc hoàn thiện sửa đổi Luật số 69/2014/QH13 cần được đẩy mạnh thực hiện đồng bộ trong các năm tới. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và lãnh đạo doanh nghiệp hãy ứng dụng ngay các phát hiện và khung đề xuất giải pháp từ công trình này để nâng cao hiệu lực quản trị và bảo toàn tối đa nguồn vốn công của đất nước.