CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CỦA CƠ QUAN ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI SỬ DỤNG VỐN TẠI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1. Doanh nghiệp nhà nước và sử dụng vốn tại doanh nghiệp nhà nước 1. Doanh nghiệp nhà nước DNNN là tổ chức kinh tế thuộc sở hữu hoàn toàn hoặc một phần của Nhà nước, được tổ chức dưới hình thức pháp lý nhất định để tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc công ích nhằm đạt mục đích lợi nhuận hoặc chính sách kinh tế - xã hội (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2018). Theo đó: - Về vốn điều lệ: DNNN thường là những doanh nghiệp có vốn điều lệ lớn.
- Về vai trò: Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế và Ngân hàng Thế giới năm 2023, DNNN có vai trò: (1) Cung cấp hàng hóa, dịch vụ công; (2) Giải quyết vấn đề việc làm; (3) Hạn chế sự kiểm soát của tư nhân và nước ngoài đối với nền kinh tế; (4) Tạo ra quỹ công; (5) Tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ công. - Về mô hình tổ chức quản lý: Tùy theo phần vốn mà Nhà nước nắm giữ, doanh nghiệp được tổ chức quản lý dưới hình thức công ty TNHH một thành viên hoặc công ty cổ phần. Song, các yếu tố chính trong mô hình quản lý DNNN thường bao gồm: • Cơ quan chủ quản: Là cơ quan đại diện cho quyền sở hữu của Nhà nước tại doanh nghiệp, chịu trách nhiệm quản lý vốn nhà nước và giám sát hoạt động của DNNN, bảo đảm doanh nghiệp tuân thủ các mục tiêu kinh tế - xã hội. • Hội đồng thành viên/Hội đồng quản trị: Là bộ phận có quyền quyết định cao nhất trong doanh nghiệp, chịu trách nhiệm xây dựng và giám sát chiến lược phát triển, phê duyệt các dự án đầu tư lớn và đề ra các kế hoạch hoạt động.
• Ban điều hành (Ban giám đốc): Chịu trách nhiệm quản lý hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp, thực hiện các quyết định từ Hội đồng thành viên/hội đồng quản trị và triển khai các chiến lược đã được phê duyệt. • Ban kiểm soát: Có vai trò giám sát hoạt động tài chính và hiệu quả của các quyết định kinh doanh để đảm bảo tính minh bạch và trung thực trong hoạt động của doanh nghiệp. Cơ cấu tổ chức của DNNN thường phải tuân thủ các quy định của pháp luật và có sự giám sát chặt chẽ từ các cơ quan nhà nước nhằm đảm bảo doanh nghiệp hoạt động đúng mục tiêu phát triển và hiệu quả. Sử dụng vốn tại doanh nghiệp nhà nước 1.
Sử dụng vốn tại DNNN Sử dụng vốn tại DNNN là việc doanh nghiệp quản lý, phân bổ và triển khai nguồn vốn để đạt được hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững (Bùi Văn Vần, Vũ Văn Ninh, 2023). Khái niệm trên liên quan đến việc tối ưu hóa các nguồn vốn mà Nhà nước cấp hoặc doanh nghiệp huy động từ các nguồn khác nhằm: tăng cường hiệu quả sản xuất và kinh doanh; đảm bảo an toàn tài chính, tránh lãng phí, thất thoát, đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội và tuân thủ quy định của Nhà nước. Việc sử dụng vốn tại DNNN là một quá trình chặt chẽ từ khâu lập kế hoạch để trình cơ quan đại diện CSH phê duyệt, thông qua đến khâu triển khai thực hiện và phải luôn chịu sự giám sát, kiểm tra của cơ quan đại diện CSH cũng như các cơ quan thanh tra, kiểm tra chuyên ngành để bảo đảm việc sử dụng vốn hiệu quả, đúng quy định. Nội dung sử dụng vốn tại DNNN Trong quá trình sử dụng vốn, doanh nghiệp thực hiện các nội dung công việc sau: Lập kế hoạch sử dụng vốn: “Lập kế hoạch là quá trình xác định các mục tiêu và lựa chọn các phương thức hành động để đạt được mục tiêu” (Nguyễn Thị Ngọc Huyền và các tác giả, 2022).
Đối với các DNNN, việc lập kế hoạch sử dụng vốn là một yêu cầu bắt buộc nhằm mục tiêu bảo toàn và phát triển nguồn vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp. Kế hoạch sử dụng vốn của DNNN là một trong những nội dung trọng yếu của chiến lược, kế hoạch SXKD và kế hoạch ĐTPT 05 năm) và kế hoạch SXKD hằng năm của doanh nghiệp. Theo đó, khi lập kế hoạch doanh nghiệp sẽ đưa ra: - Các căn cứ để lập kế hoạch: căn cứ pháp lý và căn cứ tình hình thực tiễn (kết quả hoạt động năm trước: thuận lợi, khó khăn, trong đó lượng hóa các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch của năm trước; dự báo tình hình thế giới và trong nước, định hướng phát triển ngành, lĩnh vực và những nhiệm vụ, chỉ tiêu được giao trong năm kế hoạch; những điều kiện bên trong và bên ngoài doanh nghiệp); - Các mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch: Các chỉ tiêu doanh thu, lợi nhuận, nộp Ngân sách nhà nước; các dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước và nguồn lực (vốn, nhân lực, vật lực,.) để thực hiện các dự án đầu tư đó,…; - Các giải pháp thực hiện kế hoạch; 6 - Việc phân công tổ chức thực hiện kế hoạch. Tổ chức thực hiện kế hoạch sử dụng vốn: Trên cơ sở kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt, doanh nghiệp sử dụng vốn để bổ sung vốn điều lệ, đầu tư cho công tác SXKD, đầu tư dự án, xây dựng, mua, bán tài sản cố định, thực hiện các dự án đầu tư ra ngoài doanh nghiệp và dự án đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp, thực hiện đầu tư vốn vào các doanh nghiệp khác (góp vốn, tăng giảm vốn góp, chuyển nhượng vốn), thực hiện chế độ tiền lương, tiền thưởng cho người quản lý và người lao động của doanh nghiệp, thực hiện các nhiệm vụ an sinh xã hội, các nhiệm vụ chính trị theo quy định và theo chỉ đạo của cấp có thẩm quyền.
Trong quá trình thực hiện kế hoạch đã được phê duyệt, căn cứ thực tế hoạt động, doanh nghiệp có thể báo cáo, đề xuất điều chỉnh một số nội dung kế hoạch (nếu cần). Khi đó, doanh nghiệp sẽ báo cáo về: (1) Tình hình thực hiện kế hoạch đến thời điểm đề xuất điều chỉnh: (2) Lý do, mục tiêu điều chỉnh; (3) Nguyên nhân điều chỉnh (khách quan và chủ quan); (4) Nội dung điều chỉnh và giải pháp thực hiện; (5) Đánh giá hiệu quả, kết quả của việc điều chỉnh các chỉ tiêu kế hoạch. Những quy định, yêu cầu trong quá trình sử dụng vốn tại DNNN Từ khái niệm sử dụng vốn tại DNNN đã nêu tại điểm a mục 1.2 chương này, việc sử dụng vốn tại DNNN liên quan đến việc tối ưu hóa các nguồn vốn của doanh nghiệp. Theo đó, quá trình sử dụng vốn tại DNNN cần đáp ứng các yêu cầu sau: - Tăng cường hiệu quả sản xuất và kinh doanh: DNNN phải sử dụng vốn sao cho tối ưu hóa lợi nhuận và cải thiện năng suất; - Đảm bảo an toàn tài chính: Sử dụng vốn cần đảm bảo an toàn tài chính, tránh rủi ro thất thoát, mất vốn hoặc lãng phí; - Đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội: DNNN không chỉ hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận mà còn phải đáp ứng các nhiệm vụ xã hội, góp phần ổn định và phát triển nền kinh tế quốc dân; - Tuân thủ quy định của Nhà nước: DNNN sử dụng vốn cần tuân thủ quy định của pháp luật về đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp (công khai, minh bạch); Phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển KTXH, quy hoạch phát triển ngành và phù hợp với điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên.
Trong quá trình doanh nghiệp sử dụng vốn để đầu tư phát triển, cơ quan đại diện CSH, cơ quan quản lý nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động SXKD của doanh nghiệp, hoạt động quản lý, điều hành của người quản lý doanh nghiệp; đồng thời, 7 cơ quan đại diện CSH quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp thông qua người đại diện CSH trực tiếp hoặc người đại diện phần vốn nhà nước; bảo đảm doanh nghiệp SXKD theo cơ chế thị trường, bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật (Quốc hội, 2014, Luật 69/2014/QH13). Quản lý của cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với sử dụng vốn tại doanh nghiệp nhà nước 1. Khái niệm và mục tiêu quản lý của cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với sử dụng vốn tại doanh nghiệp nhà nước 1. Khái niệm về quản lý “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát các nguồn lực và hoạt động của hệ thống xã hội nhằm đạt được mục đích của hệ thống với hiệu lực và hiệu quả cao một cách bền vững trong điều kiện môi trường luôn biến động” (Nguyễn Thị Ngọc Huyền và các tác giả, 2022).
Quản lý đi theo khái niệm trên là quản lý theo quá trình. Ngoài ra, đi theo giai đoạn quản lý của đối tượng quản lý, quản lý của chủ thể đối với đối tượng quản lý, quản lý bao gồm: (1) quản lý trong giai đoạn xây dựng kế hoạch của đối tượng quản lý; (2) quản lý trong giai đoạn tổ chức thực hiện kế hoạch của đối tượng quản lý; (3) kiểm soát/kiểm tra. Phần dưới đây, quản lý của CSH là tiếp cận theo giai đoạn quản lý của các DNNN. Khái niệm quản lý của cơ quan đại diện CSH “Cơ quan đại diện CSH là cơ quan, tổ chức được Chính phủ giao thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện CSH nhà nước đối với doanh nghiệp do mình quyết định thành lập hoặc được giao quản lý và thực hiện quyền, trách nhiệm đối với phần vốn nhà nước đầu tư tại CTCP, công ty TNHH hai thành viên trở lên” (Quốc hội, 2014, Luật 69/2014/QH13)”.
Cho đến nay, có một số mô hình thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước chủ yếu đã được các quốc gia lựa chọn và vận hành: (i) mô hình phi tập trung được áp dụng ở Braxin, Hàn Quốc,…; (ii) mô hình song trùng được áp dụng ở Cộng hòa Séc, Mexico,… (iii) mô hình tập trung được áp dụng ở Trung Quốc, Indonesia, Singapore, một số nước ở Bắc Âu,. Trên thực tế, mô hình tập trung thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với các DNNN và phần vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp có thể được tổ chức dưới dạng hình thức một tổ chức, cơ quan nhà nước (trường hợp Bộ 8 DNNN ở Indonesia hoặc SASAC ở Trung Quốc và trường hợp cục/vụ thuộc bộ ở các nước Bắc Âu, Đức,…); hoặc dưới hình thức một doanh nghiệp (trường hợp Temasek ở Singapore hoặc Khazanah ở Malaysia,…).