Chương 1 C SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TUYỂN SINH ĐẠI HỌC TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC HIỆN NAY 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về tuyển sinh đại học Tuyển sinh đại học là vấn đề lựa chọn người học phù hợp với ngành nghề của xã hội để tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội, đảm bảo cho xã hội phát triển. Đây là vấn đề quan trọng của đất nước, vì vậy, để đảm bảo yêu cầu tuyển sinh đại học theo chiều dài thời gian từ thời cổ đại đến hiện đại đã có rất nhiều tư tưởng khoa học, các công trình nghiên cứu của những người đứng đầu nhà nước, các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam về vấn đề tuyển sinh đại học.
a) Trên thế giới: Có rất nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước về tuyển sinh đại học ở các nước trên thế giới như; Vannevar Bush - Frank T. Jim Black, (2008) Sandmeyer, Dooris, và Barlock, (2004) Helms, R. (2008); Pierre Darriulat (2011),… có thể nêu ra một số mô tả nghiên cứu về tuyển sinh vào đại học của một số quốc gia trên thế giới: - Ở Nhật Bản: “Không tổ chức kỳ thi tuyển đại học quốc gia. Học sinh tốt nghiệp THPT sẽ phải qua 02 vòng thi tuyển: Vòng 1 do trung tâm quốc gia tuyển sinh đại học tổ chức (sơ tuyển), vòng 2 do từng trường đại học tổ chức theo yêu cầu của từng khoa/ngành đào tạo ở trường” [50].
- Ở Hàn Quốc: “Để mở rộng quyền tự trị của các trường đại học và bình thường hóa giáo dục trung học bị lệ thuộc vào thi cử, năm 1998 Hàn Quốc đã công bố hệ thống thi tuyển mới được áp dụng từ năm 2002. Từng trường đại học được tự do xác định tiêu chuẩn tuyển chọn trong các chỉ số như kết quả hoạt động ở trung học, điểm thi trắc nghiệm, khả năng học đại học CSAT hay tự luận, thư giới thiệu. Có 3 kỳ tuyển sinh: tuyển vào mọi lúc, kỳ tuyển sinh chính thức định kỳ, kỳ tuyển sinh thêm. Học sinh được phép nộp đơn vào học bao nhiêu trường cũng được”.
- Ở Mỹ: “Nhìn chung đại học Mỹ dựa vào các yếu tố sau để chọn học sinh vào trường đại học: a) Điểm trung bình hai đến ba năm cuối trung học; b) Các môn (khó) chọn học ở trung học; c) Điểm thi sát hạch SAT về tiếng Anh, toán và 02 chuyên luan an 9 môn; d) Khả năng chuyên môn nổi trội như thể thao, âm nhạc, nghệ thuật; e) Tiềm năng lãnh đạo như trong quá trình hoạt động ở trung học hay trong xã hội” [82]. - Ở Australia: Tuyển sinh ở các bang của đất nước cũng như các trường đại học có điểm chung nhưng cũng có sự khác biệt nhất định, như “Tại bang NSW, các đại học tuyển sinh qua UAI (University Adminstration Index, tức là Chỉ số vào đại học). UAI là chỉ số tương đối xếp hạng tất cả học sinh thi tốt nghiệp lớp 12 ra từng phần trăm với hạng cao nhất là 100 và mức thay đổi là 0,5%. Học sinh được vào trường nào, ngành nào tùy theo kết quả UAI của học sinh và điểm sàn cho từng ngành học.
Sau khi xác nhận ngành học với từng trường, học sinh có thể nộp đơn xin ghi danh ngành cao hay thấp điểm hơn ngành đã chọn trong vòng tuyển sinh. Như vậy, kết quả ghi danh tại đại học Australia trong vòng tuyển sinh lần hai phản ánh phần nào cân bằng cung (do đại học ấn định) và cầu (ý muốn của học sinh)” [14]. Jim Black, (2008), “Nghệ thuật và khoa học trong công tác lập kế hoạch tuyển sinh” từ kinh nghiệm của tác giả nghiên cứu với hơn 300 trường cao đẳng và các trường đại học phải mất 3-5 năm để thực hiện đầy đủ và hoàn thiện một kế hoạch tuyển sinh. Lập kế hoạch tuyển sinh không phải nhanh chóng khắc phục cho một vấn đề tuyển sinh mà là cuộc hành trình hướng tới một lợi thế cạnh tranh bền vững.
Đây là một quá trình để đạt được việc tuyển sinh tồn tại lâu dài. Hơn nữa, kế hoạch tuyển sinh nên được kết hợp với học tập, phát triển của sinh viên, cơ sở vật chất, ngân sách và lập kế hoạch nguồn nhân lực (Sandmeyer, Dooris và Barlock, 2004). Tác giả đề cập đến thị trường của mỗi tổ chức liên tục thay đổi cho kế hoạch tuyển sinh là một hoạt động, nhiệm vụ quan trọng. Điều kiện thị trường như mức độ và bản chất của cạnh tranh, kỳ vọng của sinh viên, tỷ lệ tham gia học đại học giữa các học sinh trung học và đối tượng là người lớn,.
đáp ứng cho một tổ chức tuyển sinh để đạt được hiệu quả tối ưu theo thời gian và sự thành công trong tương lai [91]. Tùy theo điều kiện của từng nước họ tổ chức thi với phạm vi có thể là trong toàn quốc; theo từng bang/khu vực; tại các luan an 10 trường đại học; do một tổ chức cá nhân được phép, hoặc một tổ chức do nhà nước đảm nhiệm [88]. b) Ở Việt Nam: Ngay từ thời phong kiến ở nước ta đã có rất nhiều kỳ thi tuyển sinh ở các triều đại khác nhau như: Nhà Lý tổ chức kỳ thi Tam giáo (1077, 1195); Nhà Trần tổ chức thi Nho học (1236), Nhà Minh mở kỳ thi Hương (1426); Nhà Lê tổ chức thi tuyển thải loại giáo viên yếu kém để nâng cao chất lượng đào tạo (1435); Nhà Lê tổ chức các kỳ thi tuyển chọn quan lại (1434, 1437, 1444); Nhà Mạc tổ chức 22 khoa thi tiến sĩ (1527, 1592); Vua Quang Trung nhà Tây Sơn tổ chức các kỳ thi tuyển chọn nhân tài và thúc đẩy việc học, sử dụng chữ Nôm thay chữ Hán (1919); Nhà Nguyễn tổ chức kỳ thi Nho học cuối cùng (1919). Hình thức thi cử: thi văn, thi võ và thi lại viên, nhưng thi văn là khoa cử nho học vẫn là quan trọng nhất.
Các bài thi chủ yếu: án tả cổ văn, kinh nghĩa (thực chất là bình luận một đoạn văn nào đó trong tứ thư, ngũ kinh nhưng không được có ý kiến riêng mà chỉ thuật lại ý kiến người xưa); văn sách là bài bình luận về một chủ đề nhất định căn cứ vào các luận điểm trong tứ thư, ngũ kinh, chiếu, chế, biểu là văn bản hành chính các cấp. Chiếu, chế là các dạng quyết định của vua, còn biểu là văn bản trình lên vua; thơ và phú là những niêm luật được quy định chặt chẽ. Khoa cử nho học được chia làm các cấp: Thi Hương (cấp địa phương) đỗ cao nhất gọi là cử nhân thi Hội, thi Đình (trung ương) đỗ cao nhất là Tam khôi: Trạng nguyên, Bảng Nhãn, Thám hoa. Tư tưởng thi thời phong kiến (tuyển sinh) được thể hiện trong các chiếu, sắc dụ của vua như: Năm 1434, Lê Thánh Tông chiếu định phép thi Hương và thi Tiến sĩ có đoạn: “Muốn có nhân tài trước hết phải chọn người có học, phép chọn người có học thì thi cử là hàng đầu” [26].
Sắc dụ năm 1499 dưới thời Lê Hiến Tông chỉ ra rằng: “Nhân tài là nguyên khí của Nhà nước, nguyên khí mạnh thì thế đạo mới thịnh. Khoa mục là đường thẳng của quan trường, đường thẳng mở thì chân nho mới có. Cho nên, đời xưa mở khoa thi chọn người tài giỏi tất phải nghiêm ngặt về quy tắc trường thi, cẩn thận về việc dán tên giữ kín, có lệnh cấm không được bảo nhau nghĩa sách, không được viết thư trao đổi với nhau…” [26]. Đầu thế kỳ XIX, triều Nguyễn rất chú tâm đến khoa cử.
Năm 1822 khi lên nối ngôi vua Minh Mệnh có lời dụ về khoa cử: “Khoa thi Hội này là khoa thi đầu tiên, là điền lễ quan trọng các ngươi nên nhất mực công bằng, đừng phụ lời khuyên của Trẫm” [30]. luan an 11 Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, để đảm bảo chất lượng tuyển sinh đại học đã có rất nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học về thi tuyển đại học, đổi mới thi tuyển đại học như: Ngô Kim Khôi (2014) “Đổi mới thi - công nhận tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, cao đẳng” có đưa ra nhận xét, đánh giá kỳ thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh đại học, cao đẳng là vẫn còn cồng kềnh, nặng nề, tốn kém; chưa có hiệu quả cao và có nhiều điều bất cập, gây bức xúc trong xã hội. Từ đó, tác giả cũng nêu lên một số giải pháp đổi mới trên các nguyên tắc: Đổi mới thi - công nhận tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, cao đẳng phải đồng bộ với đổi mới chương trình, sách giáo khoa, kiểm tra, đánh giá thường xuyên; kết hợp đánh giá kết quả từng phần trong quá trình học với kết quả thi tốt nghiệp và đồng bộ với tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học; từng bước thực hiện đổi mới tuyển sinh đại học, cao đẳng theo quy định của Luật Giáo dục đại học và Đề án đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT; đổi mới có trọng tâm, trọng điểm, có lộ trình và bước đi phù hợp với thực tế đất nước, địa phương; đổi mới phải bảo đảm tính khả thi và sự đồng thuận của học sinh, phụ huynh và xã hội [42]. Các công trình nghiên cứu của tác giả Lâm Quang Thiệp đã đề cập đến về mặt khoa học làm sáng tỏ nhiều phương diện của lý thuyết đo lường và đánh giá trong giáo dục để làm cơ sở xây dựng các phương án ra đề thi tuyển sinh đại học như “Trắc nghiệm và ứng dụng”, (2008); “Đo lường trong giáo dục, lý thuyết và ứng dụng”; “Nâng cao chất lượng đánh giá hoạt động học tập trong hệ thống giáo dục nước ta” (2011).
Từ những kinh nghiệm tổ chức thi tuyển sinh đại học ở một số nước, tác giả đưa ra một số ý kiến đề nghị tương đối tỷ mỉ về phương án đổi mới tổ chức thi tốt nghiệp phổ thông và TSĐH ở nước ta từ năm 2015 [64], [65], [66]. Trong cuốn “Khoa cử và Giáo dục Việt Nam” (2005) của tác giả Nguyễn Quang Thắng có nêu việc thi cử đã góp phần kích thích rất lớn đối với sự phát triển của các nền giáo dục qua nhiều thời đại, đặc biệt cốt lõi hình thành lên một nền giáo dục dân tộc. Giáo dục và thi cử có mối quan hệ rất mật thiết với nhau. Sự phát triển của giáo dục và thi cử qua các thời kỳ đã định hình nên những nét đặc trưng riêng qua từng thời kỳ và là những yếu tố cho sự ổn định và phát triển hưng thịnh.