Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRẬT TỰ XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 1.Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị 1. Khái niệm quản lý nhà nước về trật tự đô thị Khái niệm về đô thị Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã, thị 15 Luan van trấn. [12] Khái niệm quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị Quản lý nhà nước là hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của Nhà nước. Quản lý nhà nước là sự tác động bằng pháp luật của các chủ thể quản lý mang quyền lực nhà nước tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước.
[6] Quản lý nhà nước mang tính quyền lực Nhà nước, pháp luật là phương tiện, công cụ chủ yếu để quản lý nhà nước nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. Quản lý nhà nước do bộ máy hành chính nhà nước thực hiện rất đa dạng, quản lý nhà nước ở lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, y tế, giáo dục, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng v. Từ những khái niệm về quản lý nhà nước cũng như quản lý nhà nước về xây dựng, có thể rút ra định nghĩa quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị là hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước tổ chức thực hiện việc thanh tra, kiểm tra, đề xuất, kiến nghị và xử lý vi phạm theo thẩm quyền và trình tự luật định về các vấn đề liên quan đến trật tự xây dựng đô thị nhằm đảm bảo việc xây dựng phải phù hợp với quy hoạch tổng thể về phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng; giữ gìn và phát triển kiến trúc mỹ quan đô thị theo đúng quy hoạch được phê duyệt, bảo vệ quyền lợi chính đáng hợp pháp của nhân dân, tạo điều kiện cho nhân dân thực hiện quyền xây dựng; ngăn chặn và tiến tới chấm dứt tình trạng lấn chiếm đất công, sử dụng đất sai mục đích, xây dựng không phép, sai phép giữ gìn kỷ cương phép nước. Đặc điểm của quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị 16 Luan van Quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị có những đặc điểm chung của quản lý nhà nước vừa có những đặc điểm đặc thù của quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị.
Một là, Quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị là sự tác động mang tính tổ chức, quyền lực nhà nước trên cơ sở pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước nhằm duy trì, bảo đảm trật tự trong xây dựng ở đô thị. Hai là, Quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị mang tính khoa học, liên tục và ổn định từ khâu lập quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng, cấp phép xây dựng, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong xây dựng ở đô thị. Ba là, Quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị vừa đảm bảo việc xây dựng phải phù hợp với quy hoạch tổng thể về phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng vừa phải giữ gìn và phát triển kiến trúc mỹ quan đô thị. Bốn là, do ngành xây dựng là ngành đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế quốc dân, là một trong những ngành đóng vai trò là xương sống của nền kinh tế và trực tiếp hình thành nên hệ thống tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân.
Do đó, Quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị trên cơ sở pháp luật nhưng phải đảm bảo tính đặc thù riêng của ngành, tạo điều kiện phát triển xây dựng để phát triển kinh tế. Vai trò của quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị Quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị nhằm thực hiện chức năng quản lý của nhà nước các cấp trong quá trình xây dựng và phát triển đô thị. Quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị còn là sự thiết lập và thực thi những khuôn khổ thể chế cùng với những quy định có tính chất pháp quy để duy trì, bảo tồn và phát triển các công trình xây dựng đảm bảo kiến trúc mỹ quan của đô thị. Vai trò quan trọng của quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị thể hiện cụ thể như: 17 Luan van Thứ nhất, quản lý nhà nước đảm bảo phát triển đô thị theo quy hoạch.
Việc tổ chức xây dựng phải được thực hiện đúng nguyên tắc, đúng quy hoạch, kế hoạch quản lý về đô thị. Tuân thủ nghiêm ngặt về quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị đã được phê duyệt gắn với định hướng phát triển của đô thị theo từng giai đoạn phát triển. Thứ hai, quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị đảm bảo tuân thủ về tiêu chuẩn, quy chuẩn trong lĩnh vực xây dựng; đảm bảo an toàn và chất lượng trong thi công công trình xây dựng tiến tới mục tiêu xây dựng “xanh- sạch- đẹp” phù hợp với “đô thị xanh” đáp ứng nhu cầu của xã hội. Thứ ba, quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị đảm bảo tuân thủ pháp luật về xây dựng.
Vai trò quản lý nhà nước thể hiện rõ thông qua công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trật tự xây dựng đô thị. Quản lý nhà nước vừa đảm bảo tính pháp quyền vừa bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân. Do đó, vai trò quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị của các cơ quan nhà nước phải đạt được cả hai mục tiêu trên. Thứ tư, quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị phải đi đôi với việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về trật tự xây dựng đô thị đến các tầng lớp nhân dân trong xã hội.
Pháp luật về trật tự xây dựng đô thị được tuyên truyền, phổ biến sâu rộng sẽ góp phần giảm áp lực quản lý nhà nước, góp phần hạn chế vi phạm pháp luật trong lĩnh vực trật tự xây dựng đô thị. Nội dung quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị Quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị là sự tác động mang tính đồng bộ, có chủ đích trên cơ sở pháp luật của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đến các chủ thể tham gia vào các hoạt động xây dựng nhằm đảm bảo cho các hoạt động xây dựng tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật. Nội dung quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị cụ thể như: 18 Luan van 1. Quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị theo quy hoạch đô thị Quy hoạch đô thị là việc tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở để tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống trong đô thị, được thể hiện thông qua đồ án quy hoạch đô thị.
Theo quy định tại Điều 13 Luật quy hoạch đô thị 2009 quy định nội dung quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị như sau: Xây dựng và chỉ đạo thực hiện định hướng, chiến lược phát triển đô thị; Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về quản lý hoạt động quy hoạch đô thị; Ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn về quy hoạch đô thị, quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị; Quản lý hoạt động quy hoạch đô thị; Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về quy hoạch đô thị; Tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong hoạt động quy hoạch đô thị; Hợp tác quốc tế trong hoạt động quy hoạch đô thị; Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong hoạt động quy hoạch đô thị. Quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị về cấp, thu hồi giấy phép xây dựng và xây dựng theo giấy phép xây dựng Công tác quản lý xây dựng theo giấy phép xây dựng là một nội dung có ý nghĩa quan trọng trong lĩnh vực quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị. Thông qua việc cấp giấy phép xây dựng cũng như việc quản lý xây dựng theo giấy phép được cơ quan có thẩm quyền cấp sẽ đảm bảo quy hoạch đô thị được thực hiện một cách nghiêm túc, cảnh quan kiến trúc đô thị, chất lượng công trình xây dựng được đảm bảo. Chính vì vậy pháp luật về xây dựng đã quy định tất cả các công trình xây dựng trước khi khởi công công trình, trừ trường hợp xây dựng các công trình thuộc bí mật Nhà nước, công trình xây dựng 19 Luan van theo lệnh khẩn cấp, công trình tạm phục vụ xây dựng công trình chính, công trình tạm phục vụ công trình chính; công trình xây dựng theo tuyến không đi qua khu dân cư nhưng phù hợp với quy hoạch xây dựng được duyệt, công trình thuộc dự án đầu tư xây dựng công trình đó được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; công trình xây dựng thuộc dự án khu đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu nhà ở có quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; công trình sửa chữa, cải tạo, lắp đặt thiết bị bên trong không làm thay đổi kiến trúc, kết cấu chịu lực và an toàn của công trình; công trình hạ tầng kỹ thuật quy mô nhỏ thuộc các vùng sâu, vùng xa được miễn giấy phép xây dựng.
Ngoài các công trình nêu trên, các công trình xây dựng trước khi khởi công công trình đều phải có giấy phép xây dựng do cơ cơ quan có thẩm quyền cấp.