Mở đầu. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu. Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức quản lý công tác của Trung tâm Thông tin - Thƣ viện, Đại học Quốc gia Hà Nội. Chƣơng 3: Đề xuất các biện pháp tổ chức quản lý công tác của Trung tâm Thông tin - Thƣ viện nhằm đáp ứng yêu cầu Kiểm định chất lƣợng tại Đại học Quốc gia Hà Nội.
Kết luận và khuyến nghị. Tài liệu tham khảo Phụ lục (kèm theo) 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề: Thƣ viện và vấn đề tổ chức quản lý thông tin - thƣ viện đƣợc các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam thuộc các chuyên ngành nghiên cứu dƣới nhiều góc độ khác nhau.Thế giới: Trong quá trình hình thành và phát triển, các thƣ viện với tƣ cách nhƣ là thiết chế xã hội, hiện tƣợng xã hội đƣợc các nhà bác học nghiên cứu. Và đến đầu thế kỷ XIX (vào khoảng từ 1808-1892), nhà thƣ viện học ngƣời Đức M.Sretinge lần đầu tiên sử dụng từ “Thƣ viện học”.
Các nhà khoa học ở Liên Xô (trƣớc đây) đã có nhiều công trình nghiên cứu về khái niệm “Thƣ viện”, “Thƣ viện học”, “Khách thể của thƣ viện học”, “Đối tƣợng của thƣ viện học” nhƣ: A.Ripin; Parôxki… Ở Mỹ có một số nhà khoa học đã nghiên cứu một cách công phu và nghiêm túc về một số vấn đề có tính chất lịch sử hình thành phát triển và những khía cạnh hoạt động của hệ thống thƣ viện đại học Mỹ. Trong số những tác giả và những công trình nghiên cứu về vấn đề trên, đáng kể nhất là những cuốn: The Academic Library của John Budd; The University Library in the United States (its Origins and Development) của Arthur Hamlin; Lịch sử mới của nước Mỹ của Eric Foner. Hơn 30 năm trở lại đây ở các nƣớc phƣơng Tây, đặc biệt là ở Mỹ, Anh xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu với tên gọi là thƣ viện so sánh với các đại diện là các tác giả: Ch.Simsova; 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Macki…Theo các tài liệu Anh, Mỹ thì khái niệm “Thƣ viện học so sánh và quốc tế” gồm những công việc sau: Tập hợp tƣ liệu sự kiện; Hoạt động thƣ mục và dịch thuật; Hoạt động trong phạm vi quốc tế; Hoạt động nghiên cứu khoa học và xuất bản.Việt Nam: Tác giả Lê Văn Viết đã có những công trình nghiên cứu khoa học, những bài báo đề cập đến những vấn đề cơ bản của thƣ viện nhƣ: vị trí của thƣ viện trong xã hội, các yếu tố cấu thành thƣ viện, chức năng, nhiệm vụ của thƣ viện, tƣơng lai phát triển của thƣ viện trong điều kiện xã hội thông tin đến các vấn đề về tổ chức, vận hành của các loại hình thƣ viện khác nhau ở trong nƣớc và nƣớc ngoài. Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Huy Chƣơng nghiên cứu “Lịch sử hình thành và phát triển hệ thống thông tin thƣ viện đại học Mỹ, định hƣớng vận dụng một số kinh nghiệm vào thƣ viện đại học Việt Nam”.
Trong công trình nghiên cứu này, tác giả vận dụng một số kinh nghiệm của thƣ viện đại học Mỹ vào quá trình phát triển và hoàn thiện hệ thống thƣ viện đại học Việt Nam. Quá trình nghiên cứu tiếp theo ở Đề tài nghiên cứu cơ bản cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, Nguyễn Huy Chƣơng và nhóm tác giả điều tra nghiên cứu - Trung tâm Thông tin - Thƣ viện, Đại học Quốc gia Hà Nội đã nghiên cứu đƣa ra một số giải pháp thúc đẩy hoạt động thông tin thƣ viện đại học và xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động trung tâm thông tin - thƣ viện đại học, Vấn đề quản lý Trung tâm Thông tin - Thƣ viện đƣợc tác giả Nguyễn Văn Hành nghiên cứu với đề tài “Thực trạng và giải pháp hoàn thiện mô 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hình quản lý Trung tâm Thông tin - Thƣ viện Đại học Quốc gia Hà Nội” đã đƣa ra phƣơng hƣớng và giải pháp tiếp tục đổi mới mô hình Trung tâm Thông tin - Thƣ viện Đại học Quốc gia. Tuy nhiên, những công trình khoa học trên đây nghiên cứu những vấn đề về thƣ viện nói chung, chƣa có nhiều công trình khoa học nào nghiên cứu vấn đề tổ chức quản lý công tác Thông tin - Thƣ viện, đặc biệt là vấn đề tổ chức quản lý công tác Thông tin - Thƣ viện đáp ứng yêu cầu Kiểm định chất lƣợng đào tạo. Những khái niệm cơ bản: Chúng tôi bắt đầu công việc nghiên cứu của mình bằng cách tìm hiểu nội hàm của một số khái niệm có liên quan tới đề tài, đồng thời là kiến thức công cụ để nghiên cứu việc tổ chức quản lý công tác Thông tin - Thƣ viện đáp ứng yêu cầu Kiểm định chất lƣợng tại Đại học Quốc gia Hà Nội.
Quản lý và chức năng quản lý: 1. Khái niệm quản lý: Trong lịch sử phát triển của loài ngƣời, từ khi có sự phân công lao động đã xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù, đó là tổ chức, điều khiển các hoạt động lao động theo những yêu cầu nhất định. Dạng lao động mang tính đặc thù đó đƣợc gọi là hoạt động quản lý. Mọi hoạt động của xã hội đều cần tới quản lý.
Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển một hệ thống xã hội cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Đó là những hoạt động cần thiết phải thực hiện khi những con ngƣời kết hợp với nhau trong các nhóm, các tổ chức nhằm đạt đƣợc những mục tiêu chung. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo tác giả Ngô Trung Việt, từ quản lý (management) bắt nguồn từ chữ Latinh “manus” nghĩa là bàn tay. Theo nghĩa gốc, thực hiện quản lý là “nắm vững trong tay”, “điều khiển vững tay”.
Theo một nghĩa nào đó, quản lý là một nghệ thuật khiến ngƣời khác phải làm việc. Thuật ngữ “Quản lý” tiếng Việt với gốc Hán lột tả đƣợc bản chất hoạt động này trong thực tiễn. Nó gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: quá trình Quản gồm sự coi sóc giữ gìn hệ trạng thái “ổn định”, quá trình Lý gồm sự sửa sang, sắp xếp đổi mới hệ vào thế “phát triển”. Nếu ngƣời đứng đầu tổ chức chỉ lo Quản tức là chỉ lo việc coi sóc giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ.
Tuy nhiên, nếu chỉ quan tâm đến việc Lý tức là chỉ lo sắp xếp tổ chức, đổi mới mà không đặt nền tảng của sự ổn định thì sự phát triển của tổ chức không bền vững. Trong Quản phải có Lý, trong Lý phải có Quản để động thái của hệ ở thế cân bằng động: Hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tƣơng tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) với các nhân tố bên ngoài (ngoại lực). Tùy theo các cách tiếp cận mà ta có các quan niệm khác nhau về quản lý. Thông thƣờng khi đƣa ra khái niệm quản lý các tác giả thƣờng gắn với một loại hình quản lý cụ thể: - F.
Taylor (Mỹ, 1856 - 1915) đƣợc đánh giá là cha đẻ của thuyết “Quản lý khoa học”, định nghĩa “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn ngƣời khác làm và sau đó khiến họ đƣợc hoàn thành công việc tốt nhất và rẻ nhất”. Fayol (Pháp, 1841 - 1925) coi quản lý là một loại công việc đặc thù, ông đã nói về nội hàm của khái niệm nhƣ sau: “Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”. Fayol còn chứng minh đƣợc 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com rằng khoa học quản lý - “quản lý hành chính”, không những cần thiết cho các tổ chức công nghiệp và hãng kinh doanh mà có thể áp dụng với mọi loại hình tổ chức, kể cả cơ quan của Chính phủ vì quản lý ở một tổ chức đều có chung những chức năng trên. Follet (Mỹ, 1868-1933) cho rằng trong công việc quản lý cần chú trọng tới những ngƣời lao động với toàn bộ đời sống của họ, cả yếu tố kinh tế lẫn yếu tố tinh thần.
Theo Bà “Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc đƣợc thực hiện thông qua ngƣời khác”. Barnard (1886-1961) quan tâm đến đối tƣợng quản lý là các cá nhân con ngƣời đơn nhất và coi tổ chức nhƣ một hệ thống mở tức là nhấn mạnh đến mối liên hệ hữu cơ giữa các bộ phận với hệ thống, giữa hệ thống với môi trƣờng đặc thù của tổ chức và đối tƣợng của quản lý không phải là hoạt động của các cá nhân hoặc bộ phận mà là một hệ thống - tổ chức nhất định. Do vậy “Quản lý không phải là công việc của tổ chức mà là công việc chuyên môn duy trì hoạt động của tổ chức”. Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trƣờng mà trong đó con ngƣời có thể đạt đƣợc các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”.
Kozloova: “Quản lý là tính toán, sử dụng các nguồn lực hợp lý (nhân lực, vật lực) nhằm thực hiện các nhiệm vụ và đạt đƣợc kết quả tối ƣu về kinh tế xã hội”. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở nƣớc ta, tác giả Mai Hữu Khuê cho rằng: “Quản lý là sự tác động có mục đích với tập thể những ngƣời lao động nhằm đạt đƣợc những kết quả nhất định và mục đích đã định trƣớc”. - Tác giả Trần Kiểm lại cho rằng: “Quản lý là những tác động có định hƣớng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tƣợng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định”. - Theo Nguyễn Quốc Chí: “Quản lý giáo dục là đƣợc hiểu nhƣ việc thực hành đầy đủ các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra trên toàn bộ các hoạt động giáo dục và tất nhiên cả những phần tài chính và vật chất của các hoạt động đó nữa”.
- Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức”. - Tác giả Đặng Quốc Bảo định nghĩa: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lƣợng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội”.