CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Trong quá trình dạy học, TBGD là công cụ lao động sư phạm của GV và HS, yếu tố không thể thiếu được trong quá trình dạy học. Với tư cách là công cụ lao động sư phạm của GV và HS, khi chúng ta sử dụng đúng quy trình, phù hợp với đặc trưng của từng bộ môn, TBGD đóng vai trò cung cấp nguồn thông tin cho HS trong học tập, tạo ra nhiều khả năng để GV trình bày nội dung bài học một cách sâu sắc, thuận lợi, hình thành được ở HS những phương pháp học tập tích cực, chủ động, sáng tạo. Trực quan trong dạy học là một trong những nguyên tắc lý luận dạy học, được nghiên cứu xuyên suốt qua các thời kỳ triết học: Trực quan trong triết học cổ đại, trực quan trong triết học siêu hình cận đại, trực quan trong triết học biện chứng duy tâm và trong triết học duy vật biện chứng.
Cùng với sự phát triển của các tư tưởng trong lĩnh vực tâm lý học, giáo dục học, lý thuyết về dạy học trực quan đã có những bước tiến mới nhận thức được vai trò quan trọng của phương tiện dạy học trực quan. Tính trực quan trong dạy học đóng vai trò minh họa trong bài giảng của giáo viên, giúp học sinh không chỉ nhận biết được hiện tượng mà còn nắm rõ được bản chất của hiện tượng. Chính vì vậy, công tác quản lý cơ sở vật chất trường học nói chung và công tác quản lý TBGD nói riêng đã được nhiều tổ chức và cá nhân nghiên cứu. Theo quan điểm của người Ấn Độ đã từng tổng kết: tôi nghe - tôi quên, tôi nhìn - tôi nhớ, tôi làm - tôi hiểu.
Ở Việt Nam, có câu tục ngữ cho rằng: “Trăm nghe không bằng một thấy.” Và hơn hết Hồ Chí Minh, danh nhân văn hóa của Việt Nam và thế giới đã nói “Học phải đi đôi với hành.” 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thiết bị giáo dục là một trong những điều kiện cơ sở vật chất không thể thiếu trong mỗi nhà trường, mỗi cơ sở giáo dục, đã được Đảng, Nhà nước đưa vào thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”. TBGD là công cụ lao động của giáo viên, là phương tiện giúp học sinh dễ hiểu các khái niệm, dễ lĩnh hội kiến thức, giúp học sinh hình thành những kỹ năng thói quen cần thiết, bước đầu luyện tập thực hành, lao động, ứng dụng trong đời sống. Nghị quyết hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần II, khóa VIII chỉ rõ: “ Tất cả các trường phổ thông đều có các thiết bị tối thiểu để thực hiện các thí nghiệm trong chương trình. Sớm chấm dứt tình trạng dạy chay, học chay nhằm nâng cao chất lượng dạy và học”.
Tuy nhiên, trong thực tế công tác sử dụng TBGD của đội đội ngũ nhà giáo chưa đạt được kết quả như mong muốn do nhận thức về vai trò quan trọng của TBGD, kỹ năng sử dụng còn hạn chế, thiết bị giáo dục kém chất lượng, thiếu đồng bộ, công tác quản lý thiếu các biện pháp có hiệu quả. Chính vì vậy mà đã có nhiều đề tài nghiên cứu đến công tác quản lý, sử dụng TBGD nhằm tìm ra những biện pháp quản lý có hiệu quả như : Đề tài: “ Nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH ở trường phổ thông” của tác giả Trần Quốc Đắc, nghiên cứu việc nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH ở các bộ môn theo chương trình SGK. Đề tài cấp Bộ “Các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học phục vụ triển khai chương trình sách giáo khoa tiểu học và THCS” của tác giả Trần Đức Vượng chủ trì đã đưa ra những biện pháp sử dụng thiết bị có hiệu quả. Trong cuốn “ Quản lý giáo dục - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” do tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc làm chủ biên có phần nghiên cứu về “Quản lý tài chính và thiết bị giáo dục” đã chỉ ra cách phân loại và các nguyên tắc quản lý TBGD ở trường phổ thông.
Năm 2005, tác giả Ngô Quang Sơn chủ nhiệm đề tài cấp Bộ về “Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị giáo dục, ứng 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dụng công nghệ thông tin và truyền thông tại các trung tâm giáo dục thường xuyên và trung tâm học tập cộng đồng” đã có những đánh giá rất xác thực về quản lý thiết bị dạy học và ứng dụng CNTT tại các TTGDTX. Năm 2013, Trong cuốn tài liệu dung cho học viên cao học chuyên ngành quản lý giáo dục của tác giả Phạm Văn Thuần đã đề cập đến quản lý CSVC và TBGD, đưa ra những vấn đề chung về CSVC-TBGD và nội dung quản lý CSVC – TBGD. Năm 2013, đề tài luận văn thạc sỹ “Quản lý thiết bị giáo dục ở các trường tiểu học huyện An Dương, Thành phố Hải Phòng” của tác giả Nguyễn Thị Minh Huế. Luận án tiến sỹ của nghiên cứu sinh Lê Đình Sơn “Quản lý cơ sở vật chất phục vụ đào tạo của trường đại học theo quan điểm quản lý chất lượng tổng thể (TQM)”.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu về quản lý thiết bị giáo dục ở các trường THPT còn rất ít đề tài đề cập đến, đặc biệt ở huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội công tác này còn nhiều bất cập và hạn chế. Từ đó, tác giả nghiên cứu đề tài: “Quản lý thiết bị giáo dục ở các trườngTrung học phổ thông huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội” nhằm nghiên cứu thực trạng và đề xuất các biện pháp quản lý TBGD góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THPT huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội trong bối cảnh hiện nay là hết sức cần thiết. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm quản lý Ngay từ trong xã hội nguyên thủy, con người phải sống theo bầy đàn, họ phải biến đám đông ô hợp thành tập thể có sức mạnh thống nhất để chống chọi lại với thiên nhiên và thú dữ vì mục đích sinh tồn chung của xã hội loài người, từ đó việc tổ chức điều khiển, ra lệnh, chỉ huy đã manh nha như một sự tất yếu, tự nhiên.
Đó là nguồn gốc của của hiện tượng quản lý. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhu cầu quản lý ngày càng phát triển gắn liền với tiến trình lịch sử của nhân loại và trở thành các quan điểm tư tưởng quan trọng đối với các nhà triết học, dưới các chế độ khác nhau ngay từ thời kỳ chiếm hữu nô lệ trải qua các phương thức sản xuất và trở thành một khoa học độc lập từ giữa thế kỷ XIX, có tác động vô cùng to lớn với hiệu quả quản lý hoạt động của tất cả các lĩnh vực xã hội. Sử gia Daniel A. Wren đã nhận xét rằng: “Quản lý cũng xưa cũ như chính con người vậy” [6,tr 23].
Với nhiều cách tiếp cận khác nhau như kinh tế học, giáo dục học, xã hội học, … nhiều tác giả trong và ngoài nước đã đưa ra những khái niệm tương đối đồng nhất về khái niệm quản lý. Trước tiên theo quan niệm của các tác giả nước ngoài về quản lý: Theo Harold Koonfz và Heinz Weihrich: “Quản lý là hoạt động đảm bảo sự phối hợp giữa cá nhân nhằm đảm bảo mục tiêu quản lý trong điều kiện chi phí thời gian, công sức, tài lực, vật lực ít nhất đạt được kết quả cao nhất” [35].Fayol (1841 - 1925), một kỹ nghệ gia người Pháp, xuất phát từ các loại hình hoạt động quản lý. Ông là người đầu tiên đã phân biệt chúng thành năm chức năng cơ bản của quản lý: “Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”[6, tr. 31] Các Mác đưa ra khái niệm:“Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động”.
Ông mô tả hoạt động quản lý qua cách diễn đạt hình tượng hóa rất sinh động: “Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [34]. Quan niệm của các tác giả ở Việt Nam về quản lý: Theo Tác giả Nguyễn Quốc Chí và tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc viết: “Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [6, tr. Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung” [1]. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Tác giả Nguyễn Ngọc Quang:“Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt được mục đích nhất định” [27].
Qua các khái niệm về quản lý nêu ở trên, ta thấy tuy được diễn đạt theo những cách thức khác nhau nhưng chúng đều nhấn mạnh vào ba yếu tố cơ bản của hoạt động quản lý. Đó la chủ thể quản lý, đối tượng quản lý và mục tiêu quản lý Chủ thể quản lý: Có thể là cá nhân hoặc tập thể, đưa ra những tác động có định hướng, có mục đích, hợp quy đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Đối tượng quản lý: là con người trong tổ chức và các nguồn lực, là đối tượng chịu tác động có mục đích của chủ thể quản lý. Mục tiêu quản lý: là trạng thái mong muốn của tổ chức hướng tới trong tương lai.
Nó là đích cần đạt để tổ chức ổn định và phát triển cao hơn. Từ đó, theo quan điểm của tác giả, khái niệm quản lý được định nghĩa như sau: “ Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý bằng các hoạt động kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra lên khách thể quản lý(đối tượng quản lý) nhằm đạt được trạng thái mong muốn của tổ chức và để từ đó tiếp tục đưa tổ chức phát triển. Công cụ Môi trường quản quản lý lý Chủ thể Khách Mục tiêu quản lý thể quản quản lý Phương pháp quản lý Sơ đồ 1.1: Mô hình về quản lý 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.