MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Ngày nay, nhu cầu về đầu tư xây dựng (ĐTXD) cơ sở hạ tầng kỹ thuật (CSHTKT) tại Việt Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng đang ngày càng tăng nhanh cả về quy mô, lĩnh vực với sự tham gia rộng rãi của toàn xã hội. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại, vững chắc, đồng bộ và đầy đủ ngày càng quan trọng, đóng góp vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động đầu tư của nền kinh tế cũng như cuộc sống của nhân dân. Tuy nhiên, việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật lại đòi hỏi nguồn vốn khổng lồ, vượt quá khả năng của Nhà nước Do vậy, hình thức đối tác công tư (PPP) đối với đầu tư phát triển nói chung, đặc biệt với đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật nói riêng được xem là một kênh huy động vốn chủ yếu trong tương lai, góp phần làm giảm được gánh nặng cũng như rủi ro đối với ngân sách Nhà nước.
Đó là một trong những công cụ hữu hiệu để Nhà nước có được cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần thiết phục vụ lợi ích công và phát triển kinh tế - xã hội Thực tế trong thời gian qua, việc huy động các nguồn vốn tham gia đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại thành phố Đà Nẵng đã được thực hiện nhiều công trình dưới hình thức hợp đồng chủ yếu là BT, trong số 42 dự án ĐTXD CSHTKT được thực hiện theo hình thức PPP mới chỉ có 5 dự án đã hoàn thành và thanh quyết toán, 4 dự án đã thanh toán khối lượng, 6 dự án còn chuyển tiếp thực hiện, một số lớn 27 dự án đang chưa được triển khai. Xét về mặt phát triển lâu dài thì việc đầu tư các dự án theo hình thức BT sẽ không tồn tại bền vững khi quỹ đất trở nên ngày càng hạn chế. Trong khi đó, khung pháp lý cũng như cơ chế vẫn chưa khuyến khích được tư nhân cùng tham gia đầu tư vào lĩnh vực này do quá trình phê duyệt và cấp phép còn nhiều phức tạp, mức thu hồi vốn thấp, vai trò trách nhiệm của bên Nhà nước cũng như tư nhân còn thiếu rõ ràng, các nhà đầu tư tư nhân phải đối mặt với nhiều rủi ro. Chính những tác động không ổn định từ môi trường xung quanh và sự điều chỉnh nội tại của dự án dẫn đến phải thay đổi nhiều tiêu chí cơ bản được dự tính ban đầu và làm thay đổi hiệu quả của dự án.
Đó chính là sự tồn tại của rủi ro đối với dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP tại thành phố Đà Nẵng. Do đó, nếu được triển khai thực hiện có hiệu quả, có giải pháp quản lý rủi ro hợp lý sẽ có khả năng giảm thiểu được rủi ro, đặc biệt trong các giai đoạn ban đầu có thể sàng lọc được các dự án không phù hợp và ưu tiên hơn vào các dự án chất lượng cao hơn, góp phần tạo động lực thúc đẩy hình thức PPP phát triển nhanh hơn. luan an 2 Hiện nay, tại Việt Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng, vấn đề quản lý rủi ro (QLRR) dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật (DAĐTXD CSHTKT) theo hình thức PPP chưa được quan tâm nghiên cứu, trong phạm vi sự hiểu biết của tác giả, chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về quản lý rủi ro DAĐTXD CSHTKT theo hình thức PPP. Xuất phát từ thực trạng trên, việc nghiên cứu lựa chọn đề tài: “Quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức đối tác công tư (PPP) tại thành phố Đà Nẵng” thuộc chuyên ngành Quản lý xây dựng là thực sự cần thiết nhằm góp phần giảm thiểu tác động của rủi ro (RR) đối với các dự án PPP tại thành phố Đà Nẵng, là công việc quan trọng cốt lõi tạo nên “môi trường thuận lợi” và “hợp đồng hiệu quả” để thực hiện thành công dự án PPP và tạo môi trường hấp dẫn kích thích, thu hút các nhà đầu tư tiềm năng vào dự án PPP tại thành phố Đà Nẵng, góp phần vào sự nghiệp phát triển của thành phố Đà Nẵng nói riêng và của Việt Nam nói chung.
Luận án được thực hiện với mong muốn hệ thống hóa, làm rõ và bổ sung cơ sở lý luận về quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP; nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng; nghiên cứu thực trạng quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP tại Việt Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng; trên cơ sở đó đề xuất giải pháp có tính khoa học và khả thi nhằm giảm thiểu rủi ro cho dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP tại thành phố Đà Nẵng; nghiên cứu đề xuất ứng dụng mô hình định lượng và xây dựng phần mềm hỗ trợ việc phân tích đánh giá rủi ro nhằm quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức đối tác công tư một cách có hiệu quả 2. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu. - Mục đích nghiên cứu: Luận án nghiên cứu đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức đối tác công tư (PPP), góp phần thu hút hình thức đầu tư này cho sự phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật của thành phố Đà Nẵng. - Mục tiêu nghiên cứu: Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án đặt ra các mục tiêu cần đạt được theo quá trình nghiên cứu như sau: (1) Phân tích đánh giá các công trình nghiên cứu về hình thức đối tác công tư, về quản lý rủi ro trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP ở luan an 3 trong nước và ở nước ngoài nhằm xác định khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu của luận án (2) Hệ thống hóa, làm rõ và bổ sung cơ sở lý luận về quản lý rủi ro DAĐTXD CSHTKT theo hình thức PPP 3) Khảo sát nhằm làm rõ thực trạng nhận thức về PPP, về quản lý rủi ro DAĐTXD CSHTKT theo hình thức PPP tại thành phố Đà Nẵng (4) Đề xuất giải pháp có tính khoa học và khả thi nhằm hoàn thiện công tác quản lý rủi ro của DAĐTXD CSHTKT theo hình thức PPP tại thành phố Đà Nẵng (5) Đề xuất nghiên cứu ứng dụng mô hình định lượng và ứng dụng công nghệ thông tin để xây dựng phần mềm hỗ trợ phân tích đánh giá rủi ro nhằm quản lý rủi ro DAĐTXD CSHTKT theo hình thức đối tác công tư một cách có hiệu quả 3.
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu công tác quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức đối tác công tư của Nhà nước - Phạm vi nghiên cứu: + Chủ thể quản lý: Nhà nước. Nhà nước quản lý rủi ro trên cơ sở nguyên tắc tôn trọng và đảm bảo lợi ích kì vọng hợp lý của Nhà đầu tư. + Đối tượng chịu quản lý: Dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức đối tác công tư (PPP) tại thành phố Đà Nẵng. Trong phạm vi luận án, do điều kiện thực tế tại thành phố Đà Nẵng, dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật chỉ giới hạn trong các dự án thuộc lĩnh vực giao thông, cấp nước, thu gom và xử lý nước thải, chất thải rắn, chiếu sáng công cộng và các công trình khác như cảng liên chiểu, cảng cá.
còn ít quan tâm đề cập đến công trình thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, nghĩa trang. + Nội dung: Nghiên cứu vấn đề về quản lý rủi ro gồm nhận dạng và phân loại rủi ro; phân tích đánh giá rủi ro; xử lý rủi ro và kiểm soát rủi ro + Không gian: Không gian nghiên cứu của luận án là thành phố Đà Nẵng + Thời gian: Nghiên cứu thực trạng quản lý rủi ro ở nước ngoài từ năm 1997 đến năm 2017, nghiên cứu thực trạng quản lý rủi ro tại thành phố Đà Nẵng từ năm 2009 đến năm 2018. Cơ sở khoa học của nghiên cứu Để giải quyết vấn đề cần nghiên cứu, luận án đã sử dụng các cơ sở khoa học sau: luan an 4 Cơ sở lý luận: Cơ sở lý luận về rủi ro và quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức đối tác công tư (PPP). Dựa trên cơ sở lý luận, tác giả đã bổ sung và làm rõ các khái niệm, các quan điểm nghiên cứu, các nhân tố ảnh hưởng,… đối với công tác quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP Cơ sở pháp lý: Đây là một cơ sở quan trọng làm căn cứ để tổ chức, triển khai, đánh giá công tác quản lý dự án nói chung và quản lý rủi ro nói riêng đối với dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP Cơ sở thực tiễn: Thông qua thực tiễn nhu cầu về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP, thực tiễn nhận thức về PPP và thực tiễn triển khai công tác quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP tại thành phố Đà Nẵng, thực tiễn ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý rủi ro, tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng, qua đó đề xuất giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro phù hợp của cơ quan Nhà nước trên cơ sở đảm bảo lợi ích kỳ vọng cho Nhà đầu tư.
Phương pháp nghiên cứu và quy trình khung nghiên cứu của luận án 5. Phương pháp nghiên cứu Ngoài các phương pháp nghiên cứu như tổng hợp, phân tích, so sánh, luận án đã sử dụng chủ yếu hai phương pháp nghiên cứu định tính (NCĐT) và nghiên cứu định lượng (NCĐL) để xác định kết quả nghiên cứu. + Phương pháp nghiên cứu định tính (NCĐT): là hướng tiếp cận thăm dò, mô tả, giải thích dựa vào các phương tiện khảo sát kinh nghiệm, nhận thức, động cơ thúc đẩy, dự định, hành vi, thái độ [84].