CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ RỦI RO DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ (PPP) 1. Phân tích và đánh giá các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến luận án 1. Phân tích và đánh giá các công trình nghiên cứu về hình thức đối tác công tư trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật Hình thức đối tác công tư đã được áp dụng phổ biến trên thế giới từ những năm đầu của thập kỷ 90 của thế kỷ XX. Theo Chan và cộng sự (2009) [61] và Chou và Pramudawardhani (2015) [68], đây là hình thức hợp tác tối ưu hóa hiệu quả đầu tư và cung cấp dịch vụ công cộng chất lượng cao, sử dụng được kỹ năng, công nghệ hiện đại và tính hiệu quả trong quản lý của khu vực tư nhân.
Đồng thời, hình thức PPP cũng được xem như là một đòn bẩy đối với các nguồn lực tài chính và chuyên môn từ khu vực tư nhân nhằm cải thiện chất lượng và mở rộng độ bao phủ của các dịch vụ CSHTKT, giúp giảm được gánh nặng tài chính cũng như rủi ro tài chính đối với ngân sách Nhà nước, tạo nên tính bền vững và dịch vụ công hiện đại (theo Cheung và cộng sự năm (2009) [65], Chou và Pramudawardhani (2015) [68]). Do vậy, các nước phát triển và đang phát triển đều đang có mối quan tâm ngày càng tăng trong việc áp dụng hình thức đối tác công tư. Nhiều chính phủ trên toàn cầu đang tìm cách thu hút chuyên môn và vốn của khu vực tư nhân để giảm thiểu thâm hụt ngân sách tài chính cho đầu tư xây dựng CSHTKT (Wibowo và Hans 2014 [145]). Trên thế giới, có ba xu hướng nghiên cứu chính đang được quan tâm hiện nay: 1.
Những công trình nghiên cứu về nhân tố đảm bảo sự thành công để thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức đối tác công tư Các nghiên cứu trên thế giới tập trung vào việc nghiên cứu các nhân tố thành công và các mối quan hệ tạo nên sự thành công của dự án thực hiện theo hình thức PPP như: nghiên cứu phi thực nghiệm của Kumaraswamy và cộng sự (2007) [93], Salman et al (2007) [126], Thomas và cộng sự (2003) [136] hay nghiên cứu thực nghiệm của Ysa (2007) [154], Zhang (2005a, b, c) ([155], [156], [157]); Consoli (2006) [69], Ling (2004) [100], Vazquez và Allen (2004) [140], Henisz (2006) [80], El-Gohary và cộng sự (2006) [73]. Các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu những gì ảnh hưởng đến sự thành công của 11 các dự án PPP như: Kumaraswamy et al. Một số khác lại nghiên cứu mối quan hệ giữa khu vực công và khu vực tư nhân, đây là vấn đề rất quan trọng đối với sự thành công của các dự án theo hình thức PPP như: Zhang (2005a, c) đã tiến hành nghiên cứu kinh nghiệm thế giới về thực hiện dự án xây dựng theo hình thức PPP và rút ra bài học về các nhân tố thành công quan trọng trong thực hiện DAĐTXD theo hình thức PPP, đó là môi trường đầu tư thuận lợi, tính khả thi về kinh tế, liên minh nhượng quyền đáng tin cậy và phân bổ rủi ro thích hợp thông qua các hợp đồng đáng tin cậy ([155], [157]). Hơn nữa, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy mối quan hệ ngành trong các DAĐTXD theo hình thức PPP được xác định bởi bản chất của hợp đồng và quản lý mối quan hệ trong hợp đồng (ví dụ: Smyth and Edkins (2007) và Ysa (2007)) ([132], [154]).
Sau đó, nhiều nghiên cứu cũng vẫn tập trung xác định và thảo luận các nhân tố đảm bảo sự thành công của dự án theo hình thức PPP trong đầu tư xây dựng CSHT tại nhiều quốc gia khác nhau như Meng và cộng sự (2011) [108], Babatunde và cộng sự (2012) [53], Cheung et al (2012) [67]), đồng thời nghiên cứu những trở ngại khi thực hiện dự án PPP như Chan và cộng sự (2010a,b) ([62], [63]), Liu và Wilkinson (2011) [101] và nghiên cứu các nhân tố tích cực, hấp dẫn để áp dụng hình thức PPP như Chan và cộng sự (2009) [61], Cheung and Chan (2011) [66], Osei Kyei et al (2014) [116]. Một số khác lại nghiên cứu ở mức chuyên sâu hơn nhằm đề cao vai trò của Nhà nước, những nhân tố thành công quan trọng ảnh hưởng đến dự án xây dựng theo hình thức PPP không phân biệt vị trí địa lý. Tiêu biểu có những tác giả sau: Cheung et al (2012) Trên cơ sở một điều tra khảo sát thực nghiệm được tiến hành tại Hồng Kông và Úc. Bài báo nghiên cứu đã tìm ra được 18 nhân tố quan trọng góp phần thực hiện thành công dự án đầu tư xây dựng theo hình thức PPP ở Hồng Kông và Úc.
Sau đó tiến hành so sánh với các kết quả đạt được của một nhà nghiên cứu trước đó trong một cuộc khảo sát tương tự tiến hành ở Anh. Từ đó tìm ra một số nhân tố thành công quan trọng phổ biến để thực hiện các dự án đầu tư xây dựng theo hình thức PPP, bất kể vị trí địa lý như: “Cam kết và trách nhiệm của khu vực nhà nước và tư nhân”; “Sức mạnh của tập đoàn tư nhân”; và “Phân bổ rủi ro và 12 chia sẻ rủi ro hợp lý” [67]. Sydney Ngoma và cộng sự (2014), Trên cơ sở các nghiên cứu đã được thực hiện ở Zambia, giống như nhiều quốc gia khác, bài báo đã xác định hình thức đối tác công tư là phương thức thực hiện dự án có hiệu quả trong hoàn cảnh Nhà nước đang phải đối mặt với các hạn chế về tài chính [134]. John Black (2014), Bài báo đã nghiên cứu, đề cao vai trò của nhà nước trong phát triển và phân phối cơ sở hạ tầng, qua đó nhận thức được tại sao chính phủ các Bang Australia lại quan tâm đến hình thức đối tác công tư (PPP) đối với đường xá, cầu cống và đường hầm [86] Robert Osei - Kyei Albert P.
Chan (2017), Thông qua một cuộc điều tra khảo sát thực nghiệm đã được tiến hành với các chuyên gia về đầu tư xây dựng theo hình thức PPP có liên quan đến các ngành học thuật và các ngành công nghiệp trên toàn thế giới, với 310 phiếu phát ra và có 42 phiếu trả lời hợp lệ thu về, bài báo đã nghiên cứu, phân tích, tính toán, xử lý số liệu khảo sát bằng phần mềm SPSS.21 và đánh giá được mức độ quan trọng của các nhân tố, qua đó thu hút đầu tư của khu vực tư nhân đối với hình thức PPP ở các nước đang phát triển [124]. Những công trình nghiên cứu về nhân tố tài chính để thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức đối tác công tư Tài chính đóng một vai trò quan trọng trong DAĐTXD theo hình thức PPP. Các nghiên cứu phi thực nghiệm đã tập trung vào việc phát triển mô hình để giải quyết các vấn đề khác nhau. Các nhà nghiên cứu đã cố gắng nghiên cứu khả năng tồn tại của các dự án đầu tư xây dựng theo hình thức PPP như: Bakatjan và cộng sự (2003), thông qua bài báo đã sử dụng một mô hình đơn giản để xác định mức công bằng tối ưu cho các nhà hoạch định chính sách ở giai đoạn đánh giá của một dự án BOT, mô hình này kết hợp một mô hình tài chính và một mô hình lập trình tuyến tính để tối đa hoá dự án từ quan điểm của chủ sở hữu [55]; Hồ và Liu (2002), thông qua bài báo đã sử dụng một mô hình dựa trên giá dịch vụ để đánh giá tính khả thi về tài chính của một dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng theo hình thức PPP qua đó lựa chọn dự án, ước tính nguy cơ thất bại của dự án trên quan điểm của nhà quản lý dự án và quan điểm của Nhà nước [82]; Subprasom và Chen (2007), thông qua bài báo đã cung cấp mô hình phân tích giá cả đường cao tốc và lựa chọn năng lực cho một kế hoạch dự án BOT, qua đó cho thấy rằng sự kết hợp của lệ phí đường bộ và quy định năng lực đường bộ là giải pháp thực hiện tốt nhất nhằm tăng phúc lợi xã hội.
Tuy nhiên, trong các dự án đường cao tốc PPP, quy định có thể gây áp lực tài 13 chính đối với các nhà đầu tư tư nhân để vận hành một dự án nên cần phải có trợ cấp cho các nhà đầu tư tư nhân để làm cho sự tham gia của họ có tính khả thi về mặt tài chính [133]; Zhang, X. Những công trình nghiên cứu về nhân tố thời gian chuyển nhượng dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức đối tác công tư Vốn đầu tư trong dự án xây dựng theo hình thức đối tác công tư được thu hồi thông qua doanh thu hoạt động và thông qua việc giảm thuế. Một số nghiên cứu đã được tiến hành để xác định thời gian chuyển nhượng của dự án BOT như: Hồ (2006), thông qua bài báo cũng đã phát triển một mô hình dựa trên lý thuyết trò chơi nhằm xác định thời điểm chuyển nhượng của dự án [83]; Ng et al. (2007), thông qua bài báo đã nghiên cứu ứng dụng mô hình mô phỏng để xác định thời kỳ giảm giá tối ưu trong dự án đầu tư xây dựng theo hình thức đối tác công tư.
Kết quả mô phỏng cho thấy rủi ro và sự không chắc chắn, chẳng hạn như thay đổi tốc độ và chi phí vận hành có thể ảnh hưởng đến quyết định về thời gian chuyển nhượng [112]. Thông qua mô phỏng Monte Carlo, bài báo của Ye và Tiong (2003) đã cung cấp một phương pháp để đánh giá giá trị hiện tại ròng (NPV) trong những tình huống khác nhau. Rủi ro trong kinh doanh đã được nghiên cứu thông qua việc xác định thời gian chuyển nhượng dự án hợp lý để tạo ra các khoản lợi nhuận tài chính phù hợp có thể bù đắp cho rủi ro trong hoạt động kinh doanh [153]; Medda (2007) [107] và Yan Li, Xinyu Wang ,and Yahui Wang (2016) [152] đã nghiên cứu sử dụng lý thuyết trò chơi nhằm thương lượng để xác định thời gian chuyển nhượng trên cơ sở phân bổ rủi ro hợp lý cho các chủ thể có liên quan trong các dự án xây dựng theo hình thức đối tác công tư; N. Các nghiên cứu khác đã được tập trung vào phát triển một mô hình để xác định giai đoạn chuyển nhượng cho các dự án BOT như Shen và Wu (2005) [128].