Chương 1: Một số vẫn đề lý luận về đầu tư theo hợp đồng BOT, BTO, BT và pháp luật về đầu tư theo hợp đồng BOT, BTO, BT Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về đầu tư theo hợp đồng BOT, BTO, BT Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về đầu tư theo hợp đồng BOT, BTO, BT ở Việt Nam và một sô kiên nghị. 6 Chương | MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE DAU TƯ THEO HOP DONG BOT, BTO, BT VA PHAP LUAT VE DAU TU THEO HOP DONG BOT, BTO, BT 1. Một số van đề lý luận về đầu tư theo hop đồng BOT, BTO, BT 1. Đầu tư theo hợp đồng BOT, BTO, BT- một trong những hình thức phố bién cua đầu tư theo hình thức PPP 1.
Khái niệm và đặc điểm của PPP Đối tác công tư (Public-Private Partnership, tên viết tắt là PPP) là một khái niệm được sử dụng tương đối phổ biến trên thế giới. Trải qua nhiều giai đoạn và ở nhiều quốc gia khác nhau. khái niệm này tôn tại nhiều quan điểm và được nhìn nhận dưới những khía cạnh khác nhau. Thuật ngữ đối tác công tư bắt nguồn từ Hoa Kỳ, ban đầu được sử dụng để nói đến sự hợp tác trong các chương trình giáo dục được cả khu vực công và khu vực tư nhân cùng tài trợ trong thập niên 1950, sau đó nó dùng để nói về các liên doanh giữa các chính quyền thành phố và các nhà đầu tư tư nhân trong việc cải tạo các công trình đô thị ở Hoa Kỳ [27].
Theo quan điểm của Ngân hàng Thế giới (WB) cũng như Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), khái niệm PPP dùng dé chỉ các phương thức thỏa thuận khác nhau giữa khu vực công và khu vực tư nhằm thực hiện một nhiệm vụ công ích nào đó [32]. Thuật ngữ “mối quan hệ đối tác nhà nước - tư nhân dưới góc nhìn của Ngân hàng phát triển châu A (ADB) trong cuốn Số tay hướng dẫn về PPP phát hành năm 2008 dùng dé "miêu tả một loạt các mối quan hệ có thé có giữa các tô chức nhà nước và tô chức tư nhân liên quan đến lĩnh vực cơ sở hạ tầng và các lĩnh vực dịch vụ khác” [22, tr. Tại Anh- một trong những quốc gia đi đầu trong việc đầu tư theo hình thức PPP có cách tiếp cận với đối tác công tư với đặc trưng là sử dụng nguồn tài chính của khu vực tư nhân cùng với bảo lãnh của khu vực công đề cung cấp các dịch vụ công cộng [12; tr. Một số t6 chức chuyên hoạt động trong lĩnh vực PPP như Hội đồng PPP của Canada, Hội đồng quốc gia PPP của Mỹ cũng dua ra khái niệm riêng về PPP, coi PPP là một liên doanh hợp tác giữa khu vực công và tư, dựa trên lợi thé của mỗi bên nhằm xác định nhu cầu của cộng đông thông qua việc phân bồ hợp lý nguồn lực.
rủi ro và lợi ích” [22: tr. Tại Việt Nam. khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 71/2010/QD-TTg về "Quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức Đối tác công - tư”. khái niệm 7 đối tac công tu mới chính thức được ghi nhận, theo đó “dau tư theo hình thức đối tác công - tư là việc Nhà nước và Nhà dau tư cùng phối hợp thực hiện Dự án phát triển kết câu ha tầng, cung cấp dich vụ công trên cơ sở hợp đồng dự án” [8; tr.
Có thé thay rằng, mặc dù có nhiều cách diễn giải khác nhau về thuật ngữ đối tác công tư nhưng các quan điểm đều đã nêu lên bản chất của hình thức hợp tác này. Khái quát lại các quan điểm trên, có thể đưa ra khái niệm chung như sau: “PPP là một hình thức hợp tác trên cơ sở thỏa thuận giữa hai chủ thể là Nhà nước (các bộ, ngành, cơ quan địa phương, doanh nghiệp nhà nước) và nhà đầu tư tư nhân trong nước hoặc ngoài nước dé chia sẻ lợi ích, rủi ro trong việc thực hiện một dự án đâu tu phát triển cơ sở hạ tang kinh tế - xã hội và cung cấp dịch vụ công trong các lĩnh vực khác như y tế, giáo duc.” Về ban chat, dau tư theo hình thức PPP là hình thức hợp tác với những đặc điểm cơ bản riêng, chứ không phải là một quá trình “tư nhân hóa”. - PPP đặc trưng bởi quá trình hợp tác giữa khu vực công và khu vực tư nhân mà bản chất là sự thỏa thuận, giao kết dưới dạng hợp đồng đài hạn giữa hai chủ thể là cơ quan Nhà nước có thâm quyên và nhà đầu tư. Các nội dung điều khoản về phạm vi, điều kiện cung cấp dịch vụ.và phụ lục hợp đồng đều do hai bên thỏa thuận, thong nhat, quyết định.
Điều nay thé hiện sự khác biệt với hình thức tư nhân hóa, khi các nội dung về phạm vi, phương thức cung cap dich vụ thường theo quan điểm chủ quan của khu vực tư nhân. Đối tượng của PPP thường là các công trình kết cấu hạ tầng và các tiện ích có liên quan như: đường quốc lộ, đường liên tỉnh, cầu, ham, đường sắt, sân bay, cảng biển, cảng sông, bến phà, nhà máy cung cấp điện, nước, hệ thống xử lý chất thải.Hợp đồng PPP thường có thời hạn tương đối dài (it nhat 5 nam) do đặc thù các công trình dự an PPP thường là các công trình công cộng lớn, tiến độ thu hồi vốn chậm nên đòi hỏi quá trình xây dựng và khai thác lâu dài. Chính vì thời gian thực hiện hợp đồng kéo dài nên đa phần các hợp đồng thường quy định điều khoản hiệu chỉnh hay đàm phán lại một số điều khoản hop đồng. dé đảm bảo lợi ich cân bằng giữa các bên.
- Thanh toán trong quá trình đầu tư theo hình thức PPP sẽ dựa vào hiệu suất thi công và khai thác công trình trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng. Đây là đặc điểm phân biệt phương thức PPP và tư nhân hóa. Đối tác công sẽ trả công cho các đối tác tư trong suốt vòng đời của dự án PPP và thanh toán dựa trên những cam kết về hiệu suất xây dựng và khai thác công trình trong hợp đồng và chất lượng dich vụ cung cấp [22: tr.Néu các nhà dau tư tư nhân có hành vi vị phạm các cam kêt nảy. chủ thê công có thê áp dụng các hình phạt như 8 đã quy định trong hợp đồng.
Dac điểm này giúp PPP trở thành hình thức dau tư vừa linh hoạt vừa chặt chẽ. Nhà nước sẽ không phải trực tiếp thực hiện dự án, mà chỉ thông qua giám sát thực hiện hợp đồng và chỉ thanh toán đầy đủ, đúng hẹn khi đối tác tư thực hiện hợp đồng một cách nghiêm túc. - Đặc diém nổi bật nhất của PPP là việc chia sẻ hay phân bổ hợp lý lợi ích và rủi ro cho các bên. Trong quá trình thực hiện dự án đầu tư theo hình thức này, có thể xuất hiện nhiều nguy cơ rủi ro như: rủi ro trong quá trình xây dựng, rủi ro liên quan đến yêu cầu đầu tư.
rủi ro về tài chính, rủi ro trong quá tính vận hành và bảo trì và những rủi ro về mặt chính trị - pháp lý [12: tr.Những rủi ro này sẽ không đơn giản được chia sẻ đều cho các bên mà nó sẽ được phân chia một cách hợp lý cho bên nào có khả năng giải quyết tốt, hiệu qua hơn, chi phí thấp hơn và quản trị tốt các rủi ro có thé xảy ra. Việc chuyển giao dứt khoát, rõ ràng các rủi ro giữa các bên được coi như một nhân tố cơ bản góp phần dẫn đến thành công của hình thức đâu tư này và chỉ có như vậy mới tạo cho các đối tác tư nhân động lực để hoạt động hiệu quả hơn [14]. Đặc điểm này cũng để phân biệt PPP với hình thức tư nhân hóa, khi khu vực tư nhân phải chịu hoàn toàn các rủi ro nếu là hình thức tư nhân hóa. Ngoài ra, đầu tu theo hình thức PPP cũng có sự khác biệt cơ bản với hình thức “tư nhân hóa" bởi vi Nhà nước van chịu trách nhiệm chính trong việc cung cấp dịch vụ công cộng cho người dân và sở hữu.
quản lý các công trình găn với dịch vụ công cộng đó. Các hình thức phổ biến của PPP PPP có thé được tổ chức thực hiện dưới nhiều hình thức, nhưng trên thé giới tồn tại các hình thức thực hiện PPP pho bién nhu sau: - Hình thức hợp đồng dịch vụ/ quản ly: Hop đồng dich vụ là hợp đồng thỏa thuận giữa một cơ quan nhà nước có thâm quyền với một đơn vị tư nhân, trong đó cơ quan nhà nước thuê đơn vị tư nhân thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ, dịch vụ cụ thế trong một thời gian nhất định. Hợp đồng quản lý là hợp đồng giữa cơ quan nhà nước với đối tác tư nhân, trong đó thỏa thuận cho khu vực tư nhân được quan lý một tiện ích hay dịch vụ công [22; tr. - Nhượng quyền khai thác/ cho thuê: Nhượng quyền khai thác (Franchise) là hình thức mà theo đó cơ sở hạ tầng được nhà nước xây dựng và sở hữu nhưng giao (thường là thông qua đấu giá) cho tư nhân vận hành và khai thác.
Hình thức cho thuê (Leasing) là hình thức trong đó cơ quan nhà nước cho đối tác tư nhân thuê tài sản/ cơ sở hạ tầng sẵn có thuộc sở hữu của cơ quan nhà nước. đề thực hiện khai thác. vận hành và cung câp các 9 địch vụ công. Với hình thức cho thuê.
đối tác tư nhân phải trả một khoản phí cố định theo thỏa thuận cho cơ quan nhà nước, thì trong hình thức nhượng quyền khai thác, đối tác tư nhân được phép thu phí từ người sử dụng dịch vụ và trả một khoản phí cho cơ quan nhà nước theo tỷ lệ trên một đơn vị dịch vụ bán ra, đồng thời cho phép giữ lại một phần doanh thu từ việc cung cấp dịch vụ công. Theo đó, với hình thức nhượng quyền khai thác, rủi ro kinh doanh của khu vực tư nhân thường thấp hơn so với hình thức cho thuê [12; tr. - Hình thức “Thiết kế - xây dựng - tài trợ - vận hành” (DBFO): DBFO là một hình thức PPP, trong đó đối tác tư nhân thực hiện tất cả các giai đoạn của một dự án để cung cấp địch vụ công, bao gom: thiét ké (D), xây dung (B), tai trợ (F) và vận hành dự an (O) thông qua một hợp đồng dài hạn. - Hình thức “Xây dựng - vận hành - chuyến giao” (BOT): BOT là hình thức ma ở đó đối tác tư nhân thực hiện dự án sẽ đứng ra xây dựng và vận hành công trình trong một thời gian nhất định sau đó chuyên giao toàn bộ cho nhà nước.