phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương, 8 tiết. z 11 Chƣơng 1 VỐN ĐẦU TƢ VÀ VAI TRÒ CỦA VỐN ĐẦU TƢ CHO PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG KINH TẾ 1. VỐN ĐẦU TƢ CHO PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG KINH TẾ 1. Khái quát chung về kết cấu hạ tầng kinh tế 1.
Khái niệm kết cấu hạ tầng và kết cấu hạ tầng kinh tế Kết cấu hạ tầng (KCHT) - theo nguyên nghĩa tiếng Anh, tiếng Pháp từ gốc được du nhập vào nước ta được viết “Infrastructure”, ghép bởi 2 từ, Infra có nghĩa là nền móng, nền tảng, phần nền dưới hay còn gọi là hạ tầng và Structure có nghĩa là kết cấu, cấu trúc, kiến trúc, công trình xây dựng, công trình kiến trúc. Theo nghĩa hẹp, kết cấu hạ tầng là tập hợp các ngành phi sản xuất, bao gồm các công trình vật chất kỹ thuật phi sản xuất và các tổ chức dịch vụ có chức năng đảm bảo những điều kiện chung cho sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội. Với cách hiểu này, kết cấu hạ tầng bao gồm các công trình giao thông, thủy lợi, cấp thoát nước, cung ứng điện, trường học, hệ thống thông tin liên lạc, bệnh viện …với chức năng bảo đảm lưu thông, phục vụ cho khu vực sản xuất và khu vực khác. Như vậy, kết cấu hạ tầng chưa phản ánh được hết mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận vốn không cùng tính chất nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau trong hệ thống thống nhất.
Theo nghĩa rộng, kết cấu hạ tầng được hiểu là tổng thể các công trình và nội dung hoạt động có chức năng bảo đảm những điều kiện “ bên ngoài” cho khu vực sản xuất và sinh hoạt dân cư. Nếu hiểu theo cách này thì KCHT xét về mặt hình thức rất rộng, bao gồm các lĩnh vực khác nhau từ hệ thống giao thông, thủy lợi, năng lượng, cấp thoát nước đến các cơ sở vật chất như trường học, bệnh viện…, từ thể chế pháp lý đến hệ thống đảm bảo thông tin kinh tế. z 12 Nếu hiểu theo từ điển kinh tế của Liên xô trước đây: KCHT là tổng thể các ngành kinh tế (hay các công trình kỹ thuật), những điều kiện tạo ra, phục vụ cho việc phân bổ và hoạt động của các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp (hay của những xí nghiệp riêng biệt của các ngành sản xuất ấy), đồng thời cũng phục vụ cho việc phân bổ và sinh sống của dân cư. Đó là vận tải, bưu điện, công trình đường xá, cầu cống, cảng sông và cảng biển, kho tàng, cơ sở năng lượng, hệ thống tưới tiêu, phát triển giáo dục chung và giáo dục nghề nghiệp, khoa học, các lĩnh vực dịch vụ, bảo vệ sức khỏe…[25, tr.
Ở Việt Nam, thuật ngữ KCHT được dùng khá phổ biến trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, nhưng quan điểm nhìn nhận khác nhau, chưa thật nhất quán. Một số nhà học giả cho rằng, KCHT là những cấu trúc vật chất - kỹ thuật, là hệ thống những công trình, thiết bị làm nền tảng cho hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động văn hóa, xã hội và các hoạt động khác diễn ra trên đó. Cũng có tác giả định nghĩa kết cấu hạ tầng quốc gia bao gồm những cơ sở kinh tế xã hội của đất nước như giao thông, nhà ga, sân bay, bến cảng, hệ thống năng lượng, thông tin liên lạc, bệnh viện, trường học, trung tâm thương mại… Theo Lê Du(1996) Phong cho rằng: “Kết cấu hạ tầng là tổng hợp các yếu tố và điều kiện vật chất kỹ thuật được tạo lập và tồn tại trong mỗi quốc gia, là nền tảng và điều kiện chung cho các hoạt động kinh tế - xã hội, các quá trình sản xuất và đời sống diễn ra trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân, cũng như trong mỗi khu vực, vùng lãnh thổ đất nước” [29, tr. Như vậy, khái niệm KCHT được hiểu là tổng thể những hệ thống, cấu trúc, thiết bị và công trình vật chất - kỹ thuật được tạo lập, tồn tại và phát huy tác dụng trong mỗi quốc gia, khu vực hay mỗi vùng lãnh thổ; đóng vai trò nền tảng và là điều kiện chung cho phát triển kinh tế - xã hội, cho các quá trình sản xuất, tái sản xuất và nâng cao đời sống của dân cư.
Trong nhiều công trình nghiên cứu về kết cấu hạ tầng, các tác giả z 13 thường phân chia kết cấu hạ tầng thành hai loại cơ bản, gồm: kết cấu hạ tầng kinh tế và kết cấu hạ tầng xã hội. - Kết cấu hạ tầng kinh tế: Bao gồm các công trình hạ tầng kỹ thuật như: năng lượng (điện, than, dầu khí) phục vụ sản xuất và đời sống, các công trình giao thông vận tải (đường bộ, đường sắt, đường biển, đường sông, đường hàng không, đường ống), bưu chính- viễn thông, các công trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông- lâm- ngư nghiệp… Kết cấu hạ tầng kinh tế là bộ phận quan trọng trong hệ thống kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển nhanh, ổn định, bền vững và là động lực thúc đẩy phát triển nhanh hơn, tạo điều kiện cải thiện cuộc sống dân cư. - Kết cấu hạ tầng xã hội: Kết cấu hạ tầng xã hội là tập hợp một số ngành có tính chất dịch vụ xã hội; sản phẩm do chúng tạo ra thể hiện dưới hình thức dịch vụ và thường mang tính chất công cộng, liên hệ với sự phát triển con người cả về thể chất lẫn tinh thần, loại này gồm nhà ở, các cơ sở khoa học, trường học, bệnh viện, các công trình văn hoá, thể thao… và các trang, thiết bị đồng bộ với chúng. Đây là điều kiện thiết yếu để phục vụ, nâng cao mức sống của cộng đồng dân cư, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực phù hợp với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Việc phân chia KCHT thành các bộ phận cụ thể hay khu vực chỉ mang ý nghĩa tương đối. Bởi vì, trên thực tế có nhiều trường hợp các công trình KCHT đồng thời đảm bảo cả hai chức năng vừa trực tiếp phục vụ sản xuất, vừa phục vụ đời sống sinh hoạt của của dân cư như hệ thống điện, hệ thống giao thông, hệ thống cấp thoát nước, thông tin liên lạc…Vậy, KCHT là nền tảng vật chất có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia, cũng như mỗi vùng lãnh thổ. z 14 Hệ thống giao thông Hệ thống các công trình cấp điện KẾT CẤU HẠ Hệ thống cấp nước sạch TẦNG KINH Hệ thống công trình bưu chính, viễn thông. TẾ Hệ thống công trình bảo vệ môi trường.
Hệ thống kho tàng, bến cảng, sân bay. Các kết cấu hạ tầng kinh tế khác. Các khu nhà ở KẾT CẤU Trụ sở cơ quan hành chính sự nghiệp HẠ TẦNG Các công trình giáo dục đào tạo Các công trình y tế Các công trình phục vụ văn hóa, nghệ thuật. Các khu công viên, vui chơi giải trí KẾT CẤU Cơ sở nghỉ ngơi, an dưỡng HẠ TẦNG XÃ Các công trình thể dục, thể thao.
HỘI Các cơ sở kinh doanh dịch vụ, thương mại. Các công trình kết cấu hạ tầng xã hội khác.1: Sơ đồ kết cấu hạ tầng z 15 Qua sơ đồ trên cho thấy một cách khái quát kết cấu hạ tầng bao gồm: KCHTKT và KCHT xã hội, tuy nhiên mỗi thành tố của kết cấu hạ tầng có chức năng, đặc điểm và vai trò khác nhau. Vì vậy khi nghiên cứu KCHTKT chúng ta thường đi nghiên cứu bộ phận cụ thể của nó như là: Hệ thống giao thông, hệ thống cấp điện, hệ thống nước sạch, hệ thống thoát nước, hệ thống công trình bảo vệ môi trường… 1. Vai trò của kết cấu hạ tầng kinh tế KCHTKT có đặc trưng cơ bản là một bộ phận đặc thù của cơ sở vật chất kỹ thuật trong nền kinh tế quốc dân có chức năng, nhiệm vụ cơ bản là đảm bảo những điều kiện chung cần thiết cho quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng được diễn ra bình thường, liên tục.
Điều này đã được C.Mác nhấn mạnh: “Trong quá trình sản xuất và tái sản xuất vật chất của xã hội, các nhân tố kết cấu hạ tầng sản xuất (kỹ thuật) có vai trò và ý nghĩa hết sức to lớn, nếu thiếu chúng quá trình sản xuất sẽ không diễn ra hoặc sẽ bị gián đoạn” [24, tr. Vậy có thể nói, KCHTKT có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia nói chung và từng địa phương nói riêng. Điều này được thể hiện ở những điểm sau: Thứ nhất, KCHTKT phục vụ trực tiếp quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. - KCHTKT cung cấp các sản phẩm và dịch vụ đầu vào cũng như dịch vụ đầu ra đối với mỗi hoạt động của của các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế, tạo ra những mối liên hệ giữa các bộ phận trong trong vùng và giữa các vùng khác nhau trong phạm vi quốc gia và quốc tế.
Nhờ đó mà mọi tiềm năng kinh tế của vùng có cơ hội được khai thác, sử dụng và phát huy hiệu quả; hoạt động sản xuất kinh doanh được đẩy mạnh, nâng cáo năng suất, chất lượng và hạ giá thành sản phẩm… đó cũng là cơ hội để kinh tế địa phương, kinh tế vùng có điều kiện tăng trưởng phát triển cao, bền vững cả bề rộng lẫn chiều sâu, tạo việc làm và nâng cao thu nhập, đồng thời tạo điều kiện để nâng cao z 16 đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân, tạo đà cho tăng trưởng và phát triển kinh tế ngày càng cao. - Sự phát triển của hệ thống giao thông đảm bảo sẽ là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, tạo ra cơ hội lớn cho việc mở rộng thị trường và thực hiện chuyên môn hóa sản xuất cho mọi vùng miền trong một quốc gia và phạm vi quốc tế; đồng thời là cầu nối giữa các trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội các vùng miền khác nhau, cùng tạo đà cho nhau tăng trưởng và phát triển bền vững kinh tế của địa phương. - Sự phát triển của mạng lưới điện quốc gia tạo điều kiện mở rộng và nâng cao năng suất, chất lượng của các hoạt động sản xuất kinh doanh; nhờ có điện nhiều ngành nghề đã áp dụng, chuyển giao khoa học công nghệ một cách nhanh chóng vào ngành sản xuất của mình; nhiều ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ có bước phát triển mới cả về chất lẫn về lượng; đời sống vật chất tinh thần, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, truyền thanh, truyền hình được cải thiện rõ rệt.