mở đầu giai đoạn đổi mới toàn diện và sâu sắc ở nước ta, trong đó có sự đổi mới về các quan điểm kinh tế. Đảng ta chủ trương điều chỉnh lại cơ cấu đầu tư theo hướng: phải tập trung sức người, sức của vào việc thực hiện cho được ba chương trình mục tiêu về lương thực, thực phẩm; hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Ba chương trình kinh tế là sự cụ thể hoá nội dung công nghiệp hoá chặng đường đầu tiên, định hướng cho sự phát triển tất cả các ngành, các hoạt động kinh tế, nhằm xây dựng cơ cấu ngành kinh tế hợp lý. Tiếp đó Đại hội VII và Đại hội VIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định và hoàn thiện thêm đường lối đổi mới cho Đại hội Đảng lần thứ VI đề ra.
Trong giai đoạn này Đảng ta chủ trương chuyển dịch một cách căn bản và toàn diện về cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá bao gồm cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, cơ cấu thành phần kinh tế. Do vậy, qua 15 năm đổi mới, (1986-2000), việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, 13 z hiện đại hoá đã đem lại những thành tựu to lớn trong đó nền kinh tế đã hình thành cơ cấu 3 ngành rõ rệt teo tỷ trọng GDP như sau: + Nông nghiệp: 25% + Công nghiệp: 34,5% + Dịch vụ: 40,5% Từ thực tiễn của 15 năm đổi mới, từ tình hình kinh tế - xã hội của đất nước và bối cảnh quốc tế, Đại hội IX của Đảng đã có sự bổ sung, phát triển một cách sâu sắc và toàn diện hơn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta, năm 2010 và đến năm 2020 đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp tiên tiến và xã hội chủ nghĩa. Có thể nói trên cơ sở nghiên cứu các tác phẩm của C.Lênin và một số nhà kinh tế học, từ các quy luật khách quan, nhất là các quy luật kinh, lý luận về nội dung của cơ cấu kinh tế ngành, khảo sát sự vận động của lịch sử phát triển nền kinh tế thế giới và ở Việt Nam gắn với những thành công và chưa thành công liên quan đến sự vận động và phát triển của cơ cấu kinh tế giữa các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, có thể tìm ra xu hướng vận động cơ bản của cơ cấu kinh tế ngành và nội bộ ngành để từ đó xác định phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành có hiệu quả nhất. * Về cơ cấu ngành - Chuyển dịch đi từ cơ cấu kinh tế nông nghiệp sang cơ cấu kinh tế công nghiệp - nông nghiệp, từ cơ cấu kinh tế công nghiệp - nông nghiệp sang cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ; và từ cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ lên cơ cấu dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp hiện đại.
- Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, theo hướng tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm dần, tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ tăng lên trong GDP, trong đó ngành dịch vụ tăng nhanh hơn ngành công nghiệp. * Về cơ cấu nội bộ ngành - Ngành nông nghiệp: Chuyển từ độc canh, thuần lương, tự cấp tự túc sang đa canh, phát triển toàn diện nông - lâm nghiệp theo hướng sản xuất 14 z hàng hoá, gắn nông nghiệp với tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến và dịch vụ tại nông thôn. - Ngành công nghiệp: Chuyển từ các ngành công nghiệp truyền thống (ngành sử dụng nhiều lao động chân tay và nhiều nguyên liệu có nguồn gốc tự nhiên) sang các ngành công nghiệp sử dụng ít lao động chân tay và nguyên liệu tự nhiên, tiến lên ngành công nghiệp công nghệ cao (ngành sử dụng chủ yếu là lao động trí tuệ và vật tư nguyên liệu nhân tạo). - Ngành dịch vụ: Dịch vụ thuần dịch vụ (dịch vụ cho con người) tăng nhanh hơn ngành dịch vụ sản xuất vật chất.
Ngành dịch vụ vật chất gián tiếp (thương nghiệp, tài chính, ngân hàng, khoa học, công nghệ.) tăng nhanh hơn ngành dịch vụ sản xuất trực tiếp. Các nhân tố ảnh hưởng tới xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành 1. Các nhân tố bên trong nền kinh tế Nhóm nhân tố khách quan - Là nhóm nhân tố có tác động trực tiếp đến sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đặc biệt là cơ cấu kinh tế ngành. Đó là các nhân tố về địa lý, địa hình, khí hậu, dân số, điều kiện tự nhiên + Vị trí địa lý có ý nghĩa quan trọng, là một những nhân tố ảnh hưởng lớn tới việc hình thành cơ cấu kinh tế ngành.
Nếu ở vị trí địa lý thuận lợi, một nước có khả năng rất tốt để mở rộng thị trường, tiếp thu các nguồn lực. + Địa hình là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành và biến đổi cơ cấu kinh tế ngành. Nơi nào có địa hình thuận lợi thì nơi đó hình thành và biến đổi cơ cấu kinh tế ngành thuận lợi. Căn cứ vào vị trí và địa hình để bố trí ngành sản xuất công, nông nghiệp và dịch vụ trọng điểm, điều đó có ý nghĩa kinh tế rất lớn.
+ Khí hậu thuỷ văn là nguồn tài nguyên liên quan và là tác nhân ảnh hưởng rất lớn đến các ngành kinh tế quốc dân, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Trong những năm gần đây sự tàn phá môi trường sinh thái của con người đã làm mất tính ổn định của thời tiết khí hậu, ảnh hưởng lớn đến sự 15 z phát triển của các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và sinh hoạt của con người, như hiệu ứng nhà kính, mưa a xit. Do vậy, vấn đề đặt ra là cần bảo vệ bầu khí quyển, chống các tác nhân phá hoại tài nguyên, môi trường, khí hậu. + Dân số lao động, toàn bộ lịch sử đã chỉ rõ, con người vừa là người sản xuất, vừa là người tiêu dùng.
Dân số sẽ cung cấp cho xã hội nguồn lao động, điều kiện tiên quyết cho tăng trưởng kinh tế, hình thành và biến đổi cơ cấu kinh tế ngành. Ngày nay, lao động trí tuệ trở thành đặc trưng cơ bản. Nguồn lao động dồi dào về số lượng chưa đủ, chưa có ý nghĩa quyết định. Chỉ có nguồn lao động dồi dào hiểu biết về khoa học, có sức khoẻ về trình độ văn hoá hiện đại, kỹ năng lao động thành thạo mới là tài nguyên quý giá.
+ Tài nguyên thiên nhiên có ảnh hưởng đến sự hình thành và biến đổi cơ cấu kinh tế ngành, đó là tài nguyên như đất đai, rừng, nước, khoáng sản. Nhưng hiện tại cũng như tương lai, chúng ta thấy rằng tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt, là khó khăn lớn cho quá trình tăng trưởng kinh tế, hình thành và biến đổi chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành. Con đường thoát khỏi tình trạng này là dựa vào tiến bộ khoa học - công nghệ, đồng thời tiến hành thăm dò, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên và phát triển theo hướng kinh tế tri thức. - Điều kiện về vốn, muốn bảo đảm tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu ngành lâu dài và bền vững, chất lượng cao thì việc bảo đảm nguồn vốn là rất quan trọng, trong đó nguồn vốn tự có là chủ yếu.
- Tiến bộ khoa học - công nghệ là động lực chủ yếu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ. Tiến bộ khoa học - công nghệ xét về nội dung được phát triển theo một số hướng chính: đó là cơ khí hoá, điện khí hoá, tự động hoá, điện tử và tin học, vật liệu mới, công nghệ sinh học. Nó đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tần suất phát minh mới và ứng dụng vào sản xuất ngày càng ngắn. Phạm vi ứng dụng của một phỏt minh ngày càng mở rộng mang tính liên ngành, thậm chí liên quốc gia.
Tăng trưởng GDP với tốc độ cao trong thời đại cạnh tranh quyết liệt trên thị trường quốc tế, có thể đạt được một cách vững chắc và lâu bền trên cơ sở 16 z không ngừng tăng cường năng lực khoa học - công nghệ nội sinh. Trong thời đại văn minh công nghiệp, chúng ta thấy rõ mối quan hệ nội tại giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành với các cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và vai trò động lực của nó, cụ thể là: + Khoa học công nghệ là động lực chủ yếu thúc đẩy phân công lao động xã hội, hình thành những ngành sản xuất và mối quan hệ giữa chúng. Tiến bộ khoa học - công nghệ là nguồn gốc chủ yếu của tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. + Tiến bộ khoa học - công nghệ là yếu tố quyết định nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng tài nguyên, do đó để nâng cao hiệu suất tổng thể “đầu vào” và “đầu ra” của kinh tế.
Làm cho tốc độ tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng đầu tư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành. + Tiến bộ khoa học - công nghệ là yếu tố quyết định chuyển từ cơ cấu kinh tế ngành phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu (cơ cấu thiết bị thay thế lao động, thay những ngành lao động truyền thống tiêu hao nhiều lao động cơ bắp bằng những ngành công nghệ cao.) làm thay đổi cơ cấu hàng hoá chất lượng thấp sang cơ cấu hàng hoá chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu thị trường xã hội. + Tiến bộ khoa học - công nghệ thúc đẩy cơ cấu kinh tế ngành ngày càng hoàn thiện, đa dạng hoá, nâng cấp cơ cấu ngành kinh tế. Tiến hành cải tạo hoặc thay thế phương tiện, thiết bị lạc hậu bằng phương tiện, thiết bị tiên tiến hơn, từng bước xây dựng, phát triển những ngành công nghệ cao.
Vì vậy, nó đòi hỏi người lao động phải nâng cao trình độ tay nghề, trình độ tổ chức, quản lý, tiếp thị. nhằm liên kết các thành tố để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh. + Tiến bộ khoa học - công nghệ là yếu tố quan trọng tạo ra khả năng bảo vệ môi trường. ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ vào việc hiện đại hoá cơ cấu kinh tế ngành bằng việc thay thế thiết bị cũ, lạc hậu bằng những thiết bị hiện đại, tiết kịêm năng lượng, nguyên liệu và hiệu quả cao.
Giảm đi một lượng chất thải lớn vào môi trường. Những ngành công nghiệp sử dụng 17 z nhiều nguyên liệu, năng lượng được thay thế bằng những ngành công nghệ cao tiêu hao ít nguyên liệu sẽ giảm đáng kể tác hại đến môi trường.