Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Hà Giang giai đoạn 2008-2014 Chương 4: Quan điểm và giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Hà Giang giai đoạn 2015-2020 \ 3 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài. Các công trình nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam nói chung.
Cuốn sách “Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam” của Bùi Tất Thắng (2006), NXB khoa học xã hội. Trong cuốn sách này tác giả đã 1) Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế với các nội dung: khái niệm, chỉ tiêu phản ánh, nhân tố ảnh hƣởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. 2) Phản ánh, đánh giá thực trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam từ thập kỷ 1990 đến 2005 từ hai khía cạnh cơ cấu GDP và cơ cấu lao động, chỉ ra những nguyên nhân chủ yếu của những thành tựu và hạn chế của quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong giai đoạn này. 3) Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, phân tích thực tiễn và xem xét những nhân tố mới ảnh hƣởng tới sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam, tác giả cuốn sách đƣa ra quan điểm chung về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam là tăng nhanh một cách bền vững tỷ trọng của những lĩnh vực kinh tế hoạt động dựa trên công nghệ - kỹ thuật hiện đại, đạt năng xuất lao động cao, hiệu quả kinh tế lớn.
Quan điểm chung này đƣợc luận giải rõ thông qua phân tích hai luận điểm căn bản về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Luận điểm thứ nhất: Trên bình diện tổng quan, quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ CNH ở Việt Nam hiện nay về cơ bản phải tuân theo quy luật chung của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ CNH. Đồng thời tích cực tiếp cận những lĩnh vực khoa học công nghệ hiện đại một cách có lựa chọn và có sự chuẩn bị tốt các điều kiện về con ngƣời, cơ chế chính sách và cơ sở vật chất. Luận điểm thứ hai: Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hoá ở Việt Nam hiện nay phải hƣớng vào hội nhập và dựa vào hội nhập để để thúc đẩy nhanh quá trình hội nhập.
4) Đề xuất giải pháp chủ yếu thúc 4 z đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam. Đó là các giải pháp cơ bản, dài hạn (Lựa chọn mô hình CNH, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trƣờng, khai thông các kênh huy động các nguồn lực cho phát triển và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, mở rộng thị trƣờng) và các giải pháp trực tiếp, trƣớc mắt (lựa chọn các ngành cần tập trung phát triển, xác định những lĩnh vực nhà nƣớc trực tiếp đầu tƣ). Cuốn sách “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân” (1994), của Ngô Đình Giao, NXB chính trị quốc gia. Trong tác phẩm này tác giã đã phân tích các căn cứ lý luận và thực tiễn của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng CNH-HĐH; phân tích các quan điểm, phƣơng hƣớng xây dựng cơ cấu kinh tế có hiệu quả ở Việt Nam.
Cuốn “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn - những vấn đề lý luận và thực tiễn” (1998), của Lê Đình Thắng, Nxb Nông nghiệp, đề cập một số vấn đề cần thiết chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nông nghiệp Việt Nam và một số giải pháp ở tầm vĩ mô nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Đặng Kim Sơn (2012) với công trình “Tái cơ cấu Nông nghiệp Việt Nam theo hướng giá trị gia tăng cao”, Nxb Chính trị quốc gia. Cuốn sách nêu rõ bên cạnh những thành tựu đạt đƣợc, nông nghiệp Việt Nam còn nhiều tồn tại, yếu kém, phải chịu áp lực cạnh tranh lớn do sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, năng suất, chất lƣợng sản phẩm thấp, công nghệ lạc hậu, vệ sinh an toàn thực phẩm chƣa đáp ứng yêu cầu, hệ thống pháp luật chƣa đồng bộ, có nhiều điểm chƣa phù hợp, tăng trƣởng kinh tế nông nghiệp trong thời gian qua chủ yếu mới theo chiều rộng, tăng trƣởng mới chỉ tạo ra khối lƣợng ngày càng nhiều nhƣng giá rẻ và giá trị gia tăng thấp. Trên cơ sở đó, tác giả phân tích định hƣớng cơ cấu nền nông nghiệp Việt Nam theo hƣớng có đƣợc giá tri gia tăng ngày càng cao.
Trong cuốn “Tăng trưởng và công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam - Bài toán huy động và sử dụng vốn”, do Võ Trí Thành chủ biên, Nxb khoa học xã hội (2007), có chƣơng 4 bàn về “Tăng trƣởng, chuyển dịch cơ cấu theo Kế hoạch 2006- 2010; tính khả thi và hiệu quả đầu tƣ”. Trong chƣơng này, nhóm tác giả đã sử dụng 5 z ba mô hình định lƣợng khác nhau tiến hành dự báo, tính toán kiểm định nhu cầu đầu tƣ trong mối quan hệ với tăng trƣởng kinh tế và sự dịch chuyển cơ cấu ngành theo mục tiêu Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2006-2010. Kết quả cho thấy tính khả thi trong thực hiện mục tiêu tăng trƣởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2006 - 2010 là khá cao. Tuy nhiên, ẩn chứa trong Kế hoạch đó là không ít vấn đề cần lƣu tâm.
Thứ nhất, nền kinh tế Việt Nam đã có mức phụ thuộc rất lớn vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Chính vì vậy, việc thực hiện kế hoạch có thể vấp phải những rủi ro. Thứ hai, tăng trƣởng kinh tế Việt Nam đã và sẽ dựa chủ yếu vào phát triển của khu vực công nghiệp. Đây vẫn có thể là xu hƣớng hợp lý trong quá trình CNH trong nhiều năm tới.
Tuy nhiên, sự phát triển của khu vực công nghiệp không đi kèm với mức tăng trƣởng tƣơng xứng của khu vực dịch vụ là điều đáng lo ngại. Thứ ba, tăng trƣởng và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo Kế hoạch 2006- 2010 đòi hỏi mức vốn đầu tƣ rất cao, cho thấy hiệu quả đầu tƣ ở Việt Nam tiếp tục thấp. Các tác giả đi đến kết luận “Thông điệp ở đây là rất rõ ràng: Việt Nam phải đẩy mạnh cải cách, tạo khả năng nền kinh tế thích ứng tốt hơn với những biến động từ bên ngoài và có thể huy động, sử dụng vốn một cách hiệu quả để thực hiện mục tiêu tăng trƣởng và CNH. Lƣu ý là những cải cách mạnh mẽ về thể chế kinh tế và đặc biệt là việc mở cửa nhất là đối với khu vực dịch vụ, theo cam kết gia nhập WTO và các cam kết quốc tế khác đã chƣa đƣợc tính đầy đủ trong Kế hoạch và cả các mô hình”.
Cuốn “Mô hình công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng XHCN ở Việt Nam” của các tác giả Đỗ Hoài Nam và Trần Đình Thiên, Nxb khoa học xã hội (2009), đã đề cập tới hàng loạt các vấn đề liên quan đến nhận thức lý luận và thực tiễn cơ bản về CNH, HĐH theo định hƣớng XHCN ở Việt Nam. Riêng về vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam, công trình này đã đề cập tới một số vấn đề sau: 6 z Thứ nhất: Một số mô hình chuyển dịch cơ cấu Hàn quốc; Malaysia; nền kinh tế Đài loan; sự thay đổi của Trung quốc và Ấn độ. Thứ hai: Động thái tăng trƣởng và cơ cấu ngành của Việt Nam qua các giai đoạn 1992-1997, 1998-2001, 2002-2006, các nhận xét đƣợc đƣa ra ở đây là. - So với chính bản thân mình, cơ cấu ngành của nền kinh tế nƣớc ta đã có sự chuyển dịch khá mạnh, thực tế chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế cho thấy nền kinh tế đang thoát ra khỏi trình độ nông nghiệp và nhập vào nền kinh tế công nghiệp với tốc độ tƣơng đối nhanh.
- Khoảng cách về trình độ cơ cấu của nền kinh tế nƣớc ta năm 2005 so với nền kinh tế trong khu vực (đo bằng các chỉ số phản ánh tỷ phần cơ cấu) hầu nhƣ không thay đổi so với thời điểm xuất phát cách đây 15 năm (1990). Nhìn tổng thể, cơ cấu kinh tế của chúng ta vẫn còn thấp hơn đáng kể so với các nền kinh tế khác. Sự vƣợt trội đáng kể của các nƣớc so với Việt Nam về tỷ trọng của ngành công nghiệp chế tạo và ngành dịch vụ trong GDP tại điểm mốc của năm 2005 là một chỉ báo quan trọng. - Về cơ bản, tăng trƣởng của nền kinh tế Việt Nam vẫn dựa trên các ngành thâm dụng vốn tài nguyên và đầu tƣ công từ ngân sách nhà nƣớc.
Vai trò đóng góp của khoa học và công nghệ còn nhỏ bé và nhƣ vậy xu hƣớng hiện đại hoá của quá trình CNH ở Việt Nam là yếu. Tình hình trên cho thấy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam diễn ra chậm, dẫn tới trình độ cơ cấu bị tụt hậu khá xa so với các nƣớc trong khu vực, nó cũng phản ánh một thực tế rằng quá trình tăng trƣởng nhanh hơn của nền kinh tế của nƣớc ta trong hai thập niên qua không đi liền với một tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hƣớng hiện đại tƣơng ứng so với các nƣớc khác. Đây chính là vấn đề cốt lõi đặt ra khi kiểm định lại giá trị của mô hình CNH, HĐH và các giải pháp tiến hành khi vận dụng chúng vào đời sống thực tiễn. Thứ ba: Định hƣớng phát triển cơ cấu ngành trong mô hình CNH, HĐH rút ngắn ở Việt Nam.
Đó là: - Định hƣớng phát triển cơ cấu ngành theo quy trình công nghệ. 7 z Tuân theo định hƣớng cơ cấu này, các doanh nghiệp Việt Nam trƣớc hết phải xác định đúng lợi thế theo quy trình công nghệ của mình để chen vào chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu và khẳng định vị trí của mình trong đó. Nhƣng nhƣ vậy vẫn chƣa đủ, nhiệm vụ quan trọng hơn đặt ra cho Việt Nam là phải luôn có ý thức nỗ lực tạo ra lợi thế cạnh tranh mới để nâng cao vị thế của mình trong mạng, chiếm đƣợc khâu tạo giá trị gia tăng cao trong toàn bộ quy trình.