phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được chia thành ba chương như sau: 3 z - Chương1 : Những vấn đề cơ bản về hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại. - Chương2: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng MHB chi nhánh Hà Nội, giai đoạn 2009 – 2012. - Chương3: Một số giải pháp nhằm tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng MHB chi nhánh Hà Nội. 4 z CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠTĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM 1.Khái quát chung về ngân hàng thƣơng mại Ngân hàng thương mại ra đời và phát triển gắn liền với các hoạt động sản xuất kinh doanh của nhân dân và nền kinh tế.Trong các nước phát triển hầu như không có một công dân nào là không có quan hệ giao dịch với một NHTM nhất định nào đó.NHTM được coi như là một định chế tài chính quen thuộc trong đời sống kinh tế.
Khi nền kinh tế càng phát triển thì hoạt động dịch vụ của ngân hàng càng đi sâu vào tận cùng những ngõ ngách của nền kinh tế và đời sống con người. Mọi công dân đều chịu tác động từ các hoạt động của ngân hàng, dù họ chỉ là khách hàng gửi tiền, một người vay hay đơn giản là người đang làm việc cho một doanh nghiệp có vay vốn và sử dụng các dịnh vụ ngân hàng. NHTM là một sản phẩm độc đáo của nền sản xuất hàng hoá trong kinh tế thị trường, một tổ chức có tầm quan trọng đặc biệt trong nền kinh tế.Bản chất, chức năng, các hoạt động nghiệp vụ của các ngân hàng hầu như là giống nhau song quan niệm về ngân hàng lại không đồng nhất giữa các nước trên thế giới. NHTM và vai trò, chức năng của NHTM 1.Khái niệm Để đưa ra được một định nghĩa về NHTM, người ta thường phải dựa vào tính chất, mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính.Với mỗi quốc gia khác nhau, hình thành một khái niệm khác nhau về ngân hàng thương mại.
5 z Theo Luật Ngân hàng Đan Mạch năm 1930: Những nhà băng thiết yếu bao gồm những nghiệp vụ nhận tiền gửi, buôn bán vàng bạc, hành nghề thương mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, đứng ra bảo hiểm. Theo Luật Ngân hàng Pháp năm 1941: NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính.9] Theo Luật của các TCTD tại Việt Nam (Luật số 47/2010/QH12): “Ngân hàng là TCTD thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quantheo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Trong đó quy định rõ: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ, chủ yếu là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền đó để cho vay và thực hiện các nghiệp vụ thanh toán”.2-3] Mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhưng khi phân tích, khai thác nội dung của các định nghĩa đó, người ta dễ nhận thấy các NHTM đều có chung một tính chất, đó là:việc nhận tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, đầu tư và các dịch vụ kinh doanh khác của chính ngân hàng. Vai trò và chức năng của NHTM a.
Vai trò của NHTM đối với nền kinh tế: Từ khái niệm về NHTM nêu trên áp dụng vào thực tế nước ta, một nước có hơn 80% dân số sống bằng nghề nông, việc phát triển sản xuất theo chiều hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-HĐH) rất cần đến NHTM với vai trò to lớn của nó. Nhất là khi quá trình CNH-HĐH của chúng ta đã đi vào chiều sâu, yêu cầu cần có vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng, tăng tốc đầu tư, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo nhịp độ tăng trưởng kinh tế 6 z nhanh và lâu bền, thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế thì vai trò của các NHTM càng được Đảng và Nhà nước ta coi trọng. Đối với sự phát triển của nền kinh tế, ngân hàng thương mại có những vai trò như sau: Một là:Ngân hàng thƣơng mại là nơi cung cấp tín dụng cho nền kinh tế, là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tƣ. Là một trung gian tín dụng NHTM đã tích tụ và tập trung được một khối lượng lớn tiền tạm thời nhàn rỗi thông qua nghiệp vụ huy động vốn và thực hiện các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng.Từ nguồn tiền đó tiến hành cấp phát tín dụng cho các thành phần kinh tế, những tổ chức và cá nhân cần vốn để phục vụ cho nhu cầu chi tiêu của mình.Tức là ngân hàng đóng vai trò là người môi giới giữa một bên là những người có tiền nhàn rỗi có thể cho vay và một bên là những người cần vay vốn.Thực hiện chức năng này tức là ngân hàng đã trở thành người khơi thông và kích hoạt các nguồn vốn, làm cho nguồn tiền tệ luôn hoạt động và sinh lãi.
Những hoạt động đó của NHTM đã thực sự tác động điều hoà cung cầu tiền tệ, biến những đồng tiền nhàn rỗi thành những đồng tiền hoạt động có ích, tập trung vốn vào việc tài trợ cho các ngành kinh tế khác phát triển, tạo thêm việc làm cho người lao động và bằng những khoản tín dụng nhỏ thích hợp giúp người lao động có thêm điều kiện ổn định và cải thiện đời sống. Hai là:Ngân hàng giúp cho các nhà kinh doanh trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Ngân hàng tài trợ vốn cho các doanh nghiệp (DN) trên cơ sở phải tuân thủ các điều kiện do ngân hàng đặt ra. Trong đó các khoản tín dụng mà DN nhận được đều phải trả lãi và khi hết thời gian sử dụng phải hoàn trả gốc.
Vì vậy để đảm bảo an toàn tài sản cho ngân hàng và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho DN thì trước khi cho vay, ngân hàng cần phải thẩm định phương án 7 z sử dụng vốn vay của DN, thẩm định tính khả thi của dự án, thẩm định các yếu tố liên quan đến DN (uy tín, trình độ nhân viên, tài sản đảm bảo…) một cách chính xác rõ ràng, chi tiết, qua đó cán bộ tín dụng giúp DN xây dựng phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Sau khi cho DN vay vốn, ngân hàng vẫn tiếp tục tiến hành giám sát quá trình sử dụng vốn vay của DN và thông qua hoạt động thanh toán hộ thì Ngân hàng có thể giúp DN quản lý tốt hơn về vốn và sử dụng vốn. Ba là: Ngân hàng khuyến khích tiết kiệm trong nền kinh tế. Bất kỳ đối tượng nào trong nền kinh tế gửi tiền vào ngân hàng đều được hưởng lãi, điều đó có nghĩa là thu nhập của người gửi tiền sẽ tăng lên.
Người gửi tiền có thể gửi theo bất kỳ phương thức nào, bất kỳ thời hạn nào, Các cá nhân có số tiền nhàn rỗi chưa sử dụng đến thì có thể gửi vào ngân hàng khi cần thì có thể rút ra bất cứ lúc nào. Thông qua chính sách lãi suất, ngân hàng đã khuyến khích khách hàng tiết kiệm tiêu dùng hiện tại để có thể tăng tiêu dùng trong tương lai. Bốn là: Ngân hàng thƣơng mại là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của NHTW. Với các chức năng của mình, NHTM là một trong các chủ thể tham gia vào quá trình cung ứng tiền, tạo ra một khối lượng phương tiện thanh toán rất lớn trong nền kinh tế.
Để thực hiện chính sách tiền tệ, Ngân hàng trung ương (NHTW) phải sử dụng các công cụ để điều tiết lượng tiền trong lưu thông, nhằm đạt được các mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô, đặc biệt là mục tiêu ổn định tiền tệ. Phần lớn các công cụ của chính sách tiền tệ chỉ được thực thi có hiệu quả với sự hợp tác tích cực và có hiệu quả của các ngân hàng thương mại, các ngân hàng trung gian(NHTG) khácnhư việc chấp hành quy định dự trữ bắt buộc, quy chế thanh toán không dùng tiền mặt và nâng cao hiệu quả cho vay và đầu tư. 8 z Thông qua hệ thống các ngân hàng trung gian, NHTW phát hành thêm tiền vào lưu thông, thực hiện chính sách tín dụng, chính sách tỷ giá, chính sách lãi suất của nhà nước để điều tiết các hoạt động của nền kinh tế. Hệ thống NHTGtrực tiếp cấp tín dụng cho nền kinh tế, vì thế nó là tác nhân quan trọng ảnh hưởng đến sức mua của nền kinh tế, tạo ra phương tiện thanh toán để lưu thông hàng hóa và các dịch vụ do nền kinh tế tạo ra.
Vì vậy, hoạt động của các ngân hàng trung gian nói chung và NHTM nói riêng đều trực tiếp ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của nền kinh tế, đến sự ổn định tiền tệ và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội khác.Ngược lại, các NHTG chịu sự quản lý của NHTW bằng các quy định cụ thể. Hoạt động của NHTG chịu sự ràng buộc bởi chính sách tiền tệ của NHTW hay nói cách khác nó phải hoạt động theo những quy định mà chính sách tiền tệ vạch ra. Năm là: Ngân hàng thƣơng mại là cầu nối giữa nền kinh tế các nƣớc vàthế giới, tạo điều kiện cho việc hoà nhập của nền kinh tế trong nƣớc với nềnkinh tế trong khu vực và nền kinh tế thế giới. Với xu hướng toàn cầu hóa nềnkinh tế trong khu vực và nền kinh tế thế giới cùng với chính sách mở rộngquan hệ hợp tác quốc tế về kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới thìhoạt động của các NHTM được mở rộng và thúc đẩy cho việc mở rộng hoạtđộng kinh tế của các doanh nghiệp trong nước.
Với hoạt động rộng khắp củamình, các ngân hàng có khả năng có được nguồn vốn từ các cá nhân và các tổchức nước ngoài góp phần bảo đảm được nguồn vốn cho nền kinh tế trongnước, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước có thể mở rộng hoạtđộng của họ ra nước ngoài một cách hiệu quả hơn nhờ hoạt động thanh toán quốc tế, bảo lãnh. Chính từ sự mở rộng các quan hệ quốc tế mànền kinh tế trong nước có sự thâm nhập vào thị trường quốc tế và tăng cườngkhả năng cạnh tranh với các nước khác trên thế giới.