phần mở đầu, kết luận, nội dung luận văn đƣợc chia thành 04 chƣơng Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. 3 z Chƣơng 2: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại tỉnh Bắc Giang hiện nay. Chƣơng 4: Khuyến nghị nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại tỉnh Bắc Giang đến năm 2020 4 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là đề tài đã có nhiều công trình nghiên cứu, sách, bài viết đề cập đến nhiều góc độ khác nhau: Ngô Đình Giao, 1994.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hương công nghiệp hóa nền kinh tế quốc dân. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia. Phát triển kinh tế bền vững là một trong những yếu tố quyết định sự ổn định và phát triển của đất nƣớc. Đối với một quốc gia, yêu cầu của sự phát triển luôn luôn đòi hỏi phải có một cơ cấu kinh tế hợp lý, trong đó có sự xác định rõ mối quan hệ giữa các ngành kinh tế quốc dân, giữa các vùng lãnh thổ và giữa các khu vực kinh tế.
Các tác giả cuốn sách đã tập trung trình bày cơ sở lý luận và sự cần thiết của chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣơng công nghiệp hóa. Đồng thời các tác giả đề xuất những phƣơng hƣớng và biện pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nƣớc ta trong những năm tiếp theo. Cuốn sách mở ra góc nhìn toàn diện hơn về quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong công nghiệp hóa thời kỳ đổi mới. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển các ngành trọng điểm mũi nhọn ở Việt Nam.
Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội. Tác giả đã tiếp cận vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế dƣới tác động của việc phát triển các ngành trọng điểm mũi nhọn. Trong tác phẩm của mình, tác giả đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển các ngành trọng điểm để chuyển dịch cơ cấu kinh tế và khẳng định đây là động lực chính thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. 5 z Lê Du Phong và Nguyễn Thành Độ, 1999.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong điều kiện khu vực và thế giới. Hà Nội : Nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia. Tác phẩm đã đề cập tới các luận cứ khoa học của chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng hội nhập với khu vực và thế giới, Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành ở nƣớc ta giai đoạn 1991 - 1997, giai đoạn mà đất nƣớc bắt đầu quá trình hội nhập với thế giới. Đồng thời tác giả cũng đề cập tới một số vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn tồn tại ở một số vùng và đƣa ra các phƣơng hƣớng, giải pháp cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nƣớc ta theo hƣớng hội nhập với thế giới.
Bùi tất thắng và cộng sự, 2005. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chƣơng trình khoa học cấp nhà nƣớc KX 02. Đây là một đề tài cấp nhà nƣớc có sự tham gia của nhiều học giả và có sự nghiên cứu đầy đủ về toàn diện về vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại Việt Nam trong bối cảnh mới.
Đề tài đã đề cập đến khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đặc biệt trong đề tài các nhân tố mới ảnh hƣởng tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam hiện nay đƣợc đƣa ra phân tích một cách khoa học và có hệ thống. Các nhân tố toàn cầu hóa và những động thái của thị trƣờng thế giới hay điểm xuất phát mới của kinh tế Việt Nam đƣợc đánh giá đầy đủ để từ đó đƣa ra các quan điểm và và giải pháp thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay. Bùi Tất Thắng, 2006.
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội. Trong cuốn sách này, tác giả đã đƣa ra một số khái niệm về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đồng thời tác giả đã đi sâu vào việc phân tích, đánh giá về vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc.
6 z Nguyễn Tiến Long, 2009. Tác động của FDI tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Thái Nguyên. Đại Học Kinh Tế và Quản Trị Kinh Doanh - Đại học Thái Nguyên. Tác giả đã nghiên cứu đánh giá quá trình tác động của FDI lên quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở phạm vi cấp tỉnh.
Với phƣơng pháp định lƣợng và số liệu thống kê khá đầy đủ giai đoạn 1997 - 2007, tác giả đã đƣa ra các phân tích và kết quả rõ nét về tác động của FDI tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Thái Nguyên. Qua các nghiên cứu trên ta có thể thấy rằng chuyển dịch cơ cấu kinh tế là tiêu chí thể hiện chất lƣợng của sự tăng trƣởng, là đề tài không mới đƣợc rất nhiều học, nhà nghiên cứu, nhà quản lý quan tâm. Song trong giai đoạn 2010 - 2014 chƣa có đề tài nghiến cứu về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. Vì vậy đề tài là mới và có ý nghĩa thực tế cao.2 Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Hình 1.1 Khung lý thuyết Một số khái Một số mô niệm hình Các nhân tố Nội dung Các tiêu chí ảnh hƣởng tới chuyển dịch đánh giá chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nhóm Nhóm Nhóm Tỉ trọng Tỉ trọng Cơ cấu nhân tố nhân tố nhân tố các lao động hàng đầu vào đầu ra chính ngành các xuất sản xuất sản xuất sách trong ngành khẩu GDP 7 z 1.1 Khái niệm cơ cấu Theo triết học duy vật biện chứng cơ cấu (hay kết cấu) của một hệ thống là khái niệm dùng để chỉ cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của hệ thống.
Trong khi chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa bộ phận và toàn thể, nó biểu hiện ra nhƣ là một thuộc tính của sự vật, hiện tƣợng, và biến đổi cùng với sự biến đổi sự vật hiện tƣợng. Nhƣ vậy, có thể thấy có rất nhiều trình độ, nhiều kiểu tổ chức cơ cấu của các khách thể và các hệ thống. Tác giả đồng tình với khái niệm : “Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế với vị trí, tỉ trọng tƣơng ứng của chúng và mối quan hệ hữu cơ tƣơng đối ổn định hợp thành.” (Trần Văn Chử, 2010, trang 117) Cơ cấu kinh tế là kết quả của quá trình phát triển kinh tế, đƣợc định dạng tại một thời điểm nhất định thông qua mối tƣơng quan giữa các bộ phận kinh tế cấu thành và quan hệ của từng cấu thành với đại lƣợng tổng. *Phân loại cơ cấu kinh tế Từ góc độ kinh tế vĩ mô và trong phân tích cấu trúc của nền kinh tế, đại lƣợng tổng hay đƣợc chọn là GDP và tùy vào mục đích phân tích cụ thể, các loại cơ cấu kinh tế sau đây thƣờng hay đƣợc đề cập 3 loại, đó là: - Cơ cấu kinh tế theo sở hữu: Nguyễn Văn Sử (2013, trang 281) đã phát biểu “ Cơ cấu kinh tế theo sở hữu phản ánh mối quan hệ về sở hữu đối với tƣ liệu sản xuất giữa các chủ thể tham gia vào quá trình tăng trƣởng và phát triển”.
Ở Việt Nam, nếu theo tiêu chí sở hữu cơ cấu kinh tế đƣợc chia theo ba khu vực sở hữu là khu vực kinh tế nhà nƣớc, khu vực ngoài nhà nƣớc (tập thể, tƣ nhân và cá thể) và khu vực có vốn nƣớc ngoài. Thông qua tỷ trọng của từng khu vực trong GDP có thể nắm bắt đƣợc xu hƣớng vận động của từng thành phần kinh tế trong quá trình phát triển. 8 z - Cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ: Vùng kinh tế là một bộ phận không gian lãnh thổ quốc gia, loại cơ cấu kinh tế này phản ánh mối quan hệ giữa các vùng lãnh thổ trên một đất nƣớc trong hoạt động kinh tế tổng thể. Phân tích cơ cấu kinh tế vùng có ý nghĩa cho xây dựng chính sách phát triển vùng trên cơ sở phát huy tiềm năng của từng vùng và đóng góp của vùng vào nền kinh tế.
Ngoài ra, cơ cấu kinh tế vùng thƣờng đƣợc sử dụng để nghiên cứu về sự chênh lệch phát triển giữa các vùng trong một nƣớc, theo dõi xu hƣớng thay đổi mối tƣơng quan giữa vùng động lực với vùng nghèo và các vùng khác. Từ đó gợi mở chính sách hƣớng tới giảm mức độ chênh lệch về phát triển giữa các vùng. Cơ cấu kinh tế theo ngành (hay cơ cấu ngành kinh tế): Loại cơ cấu kinh tế này phản ánh mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành hợp thành nền kinh tế quốc dân bao gồm ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Trình độ sản xuất càng cao thì tập hợp ngành kinh tế càng trở nên phức tạp và đa dạng.
Điều này thấy khá rõ giữa một bên là các nƣớc phát triển và một bên là các nƣớc đang phát triển, có mức thu nhập thấp. Ở các nƣớc kém phát triển, nông nghiệp đƣợc coi là ngành chủ đạo, trong khi thiếu vắng nhiều ngành công nghiệp, dịch vụ mà chỉ xuất hiện khi đạt trình độ phát triển cao hơn. Đó cũng là lý do khiến cơ cấu ngành trở thành một chỉ tiêu để đánh giá quá trình công nghiệp hóa của một quốc gia, chứ không phải hai loại cơ cấu kinh tế nêu trên. Nhƣ vậy, mỗi loại cơ cấu kinh tế chứa đựng thông tin phản ánh những nét đặc trƣng của các bộ phận cấu thành trong đại lƣợng tổng và cách mà chúng quan hệ với nhau trong quá trình phát triển kinh tế.
Trên thực tế có thể còn nhiều loại cơ cấu kinh tế khác mà cách phân loại phụ thuộc vào mục tiêu nghiên cứu và phân tích. Nhƣ đã giới hạn trong phạm vi nghiên cứu, Đề tài này chỉ tập trung vào những vấn đề về cơ cấu ngành kinh tế.