CHƯƠNG I. KHÁI QUÁT VẺ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUÁ DỰ ÁN ĐẦU TƯ CƠ SỞ HA TANG KHU ĐÔ THỊ MỚI 1.1 Một số khái niệm 1. Đô thị Khái niệm đô thị Đô thi là những thành phó, thị xã, huyện, thị tran, những không gian cứ trú của con người, ở tập trung cư dân với mật độ cao, lao động chủ yếu làm việc trong các khu vực phi nông nghiệp, cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội phát triển, có vai trò giúp thúc đấy sự phát triển về kinh tế - xã hội trên một lãnh thô nhất định. Đô thị cũng có thể định nghĩa theo các quan điểm khác nhau.
Theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Quy hoạch xây dựng ban hành kèm Thông tư 22/2019/TT-BXD có hiệu lực ngày 01/7/2020 thì đô thị được định nghĩa như sau: Khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh té, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đây sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phó; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị tran. Lãnh thé đô thi: là giới hạn hành chính của đô thi, bao gồm nội thành hoặc nội thị (gọi chung là nội thị) và ngoại ô. Các đơn vị hành chính của khu vực nội thị gồm Quận và Phường, còn các đơn vị hành chính của ngoại ô gồm Huyện và Xã. Chức năng của đô thị Chức năng kinh tế: Đây là chức năng chủ yêu của đô thị.
Sự phát triển kinh tế thị trường đã đưa đến xu hướng tập trung sản xuất có lợi hơn là phân tán. Chính yêu cầu kinh tế ấy đã tập trung các loại hình xí nghiệp thành khu công nghiệp và cơ sở hạ tầng tương ứng, tạo ra thị trường ngày càng mở rộng và đa dạng hóa. Tập trung sản xuất kéo theo tập trung dân cư, trước hết là công nhân và gia đình của họ tạo ra bộ phận chủ yếu của cư dân đô thi. Chức năng xã hội: Chức năng này ngày càng có phạm vi lớn dân cùng với 4 tăng quy mô dân cư đô thị.
Những nhu cầu về nhà ở, y tế, đi lại .là những van đề găn liền với yêu cầu kinh tế, với cơ chế thị trường. Chức năng văn hóa: Ở tat cả các đô thị đều có nhu cầu giáo dục và giải trí cao, do đó ở đô thị cần có hệ thống trường học, du lịch, viện bảo tàng, các trung tâm nghiên cứu khoa học ngày cảng có vai trò lớn hơn. Chức năng quan ly: Tác động của quản lý nhằm hướng nguồn lực vào mục tiêu kinh tế, xã hội, sinh thái, kiến trúc, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, vừa nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu công cộng, vừa quan tâm đến những nhu cầu chính đáng của cá nhân. Những đặc trưng của đô thị Quy mô dân số: quy mô dân số tôi thiểu của một đô thi không nhỏ hơn 4000 người.
Riêng đối với khu vực miền núi thì quy mô dân số tối thiểu của một đô thị không nhỏ hơn 2000 người. Quy mô này chỉ tính trong khu vực nội thị. Các đơn vi hành chính của nội thi bao gồm: Quận và Phường, các đơn vị hành chính của ngoại ô gồm: Huyện và xã. Mật độ dân sé: La chỉ tiêu phản ánh mức độ tập trung dân cư của đô thị được xác định trên cơ sở quy mô dân số của khu vực nội thị và diện tích xây dựng trong giới hạn nội thị của đô thị.
Don vi tính là nguoi/km2. Dan số đô thị thường phân bố không được đồng đều, càng gần khu vực trung tâm thì mật độ dân số ngày càng cao. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp: tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của một đô thị không nhỏ hơn 60%. Tỷ lệ này chỉ tính trong khu vực nội thị.
Lao động phi nông nghiệp là những lao động làm việc trong các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, dịch vụ (Giao thông vận tải, bưu điện, du lịch, tài chính ngân hàng, cơ quan hành chính, văn hóa, giáo dục, y tẾ, KHKT.) Cơ sở ha tang đô thi: bao gồm co sở ha tang kỹ thuật (giao thông, bưu điện, thông tin — liên lạc, cấp nước, cấp năng lượng, thoát nước, xử lý rác thải, vệ sinh môi trường) và cơ sở hạ tầng xã hội (nhà ở, các công trình thương nghiệp, dịch vụ công cộng, ăn uống, nghỉ dưỡng, y tế, văn hóa, giáo duc, dao tại, nghiên cứu khoa học, thể dục thê thao, công viên, cây xanh và các công trình công cộng khác). Cơ sở hạ tầng phản ánh trình độ phát triển, sự tiện nghi sinh hoạt của cư dân đô thị và được xác định theo các chỉ tiêu cơ bản, đó là: - Chỉ tiêu cấp nước sinh hoạt: Lít/người/ngày - Chỉ tiêu cấp điện sinh hoạt: KWH/người - Mật độ đường phố: Km/Km2 và đặc điểm hệ thống giao thông - Ty lệ tầng cao trung bình, mật độ xây dựng, diện tích sử dụng Vai trò thúc day phát triển kinh tế - xã hội của đô thị Sự phát triển của những đô thị góp phần đây nhanh tốc độ phát triển kinh tế vùng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, làm thay đổi trong sự phân bố dân cư. Các đô thị là nơi tạo ra rất nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động, đô thị còn là nơi tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ vô cùng lớn và đa dạng, là nơi sử dụng các nguồn lực về lao động chất lượng cao, hệ thong co so ha tang hién đại vi vậy nên thu hút được các nha dau tư trong nước va ca nước ngoài. Cơ sở hạ tẦng Khái niệm Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những điều kiện về vật chất, kỹ thuật, thiết chế xã hội.
được trang bị các yếu tố vật chất phục vụ cho hoạt động sản xuất và đời sống con người. Cơ sở hạ tầng vừa có các yếu tô vật chất vừa phi vật chất và nó cũng là sản phâm của quá trình đầu tư để làm nền tảng cho sự phát triển của toàn xã hội. Cơ sở hạ tầng gồm hai hệ thống: - Hệ thống hạ tầng kỹ thuật bao gồm các công trình giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp nước, thoát nước, xử lý chất thải và các công trình khác. - Hệ thống hạ tang xã hội bao gồm các công trình y tế, văn hóa, giáo dục, thé thao, thương mại, dịch vụ công cộng, cây xanh, công viên, mặt nước và các công trình khác.
Phân loại cơ sở hạ tầng — Theo lĩnh vực kinh tế — xã hội thì cơ sở hạ tang phân thành: CSHT kinh tế: là bộ phận cơ sở hạ tầng thuộc những ngành phục vụ cho quá trình trực tiếp sản xuất tạo ra sản phẩm hoặc tiếp tục quá trình sản xuất trong lĩnh vực lưu thông. Nó bao gồm có hệ thống giao thông vận tải, hệ thống thuỷ lợi, cấp thoát nước, hệ thống truyền tải điện, sân bay, bến cảng. CSHT xã hội: là bộ phận CSHT thuộc các ngành, các lĩnh vực đảm bảo những điều kiện chung cho các hoạt động văn hoá, xã hội và đời song sinh hoat của con người. Đó là bộ phận CSHT ở các ngành giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội, lĩnh vực nhà ở và các công trình công cộng.
CSHT môi trường: là bộ phận cơ sở hạ tầng ở các lĩnh vực phục vụ cho việc bảo vệ, giữ gìn và cải tạo môi trường sinh thái như: các công trình phòng chống thiên tai, các công trình bảo vệ dat đai rừng biển và các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ thống xử lý chất thải công nghiệp. CSHT an ninh quốc phòng: Là một bộ phận của cơ sở hạ tầng đảm bảo những điều kiện vật chất kỹ thuật chung cho lĩnh vực an ninh — quốc phòng như hệ thống cơ sở vật chất cho sản xuất và bảo quản vũ khí, bảo dưỡng vũ khí, khí tài, các chính sách phát triển quốc phòng. — Theo ngành kinh tế quốc dân CSHT được phân thành: CSHT ngành giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, năng lượng, xây dựng, thuỷ lợi, giáo dục, y tế, văn hoá xã hội. Qua phân loại nhăm xác định vai trò, trách nhiệm từng ngành trong việc quản lý, khai thác từng bộ phận cơ sở hạ tầng.
— Theo vùng lãnh thổ, khu vực dân cư CSHT được phân thành: CSHT đô thị; CSHT nông thôn; CSHT kinh tế biển; CSHT vùng đồng băng và trung du miền nui; — Theo cap quan lý, CSHT được phân thành: CSHT do trung ương quan lý và CSHT do địa phương quản lý. Cơ sở hạ tang do trung ương quản lý: Bao gồm cơ sở hạ tang có quy mô lớn như: Hệ thống đường quốc lộ, đường sắt, sân bay, bến cảng, các cơ sở quốc phòng-an ninh. Cơ sở hạ tầng do địa phương quản lý: Bao gồm cơ sở hạ tầng giao cho các tỉnh, huyện, xã chịu trách nhiệm quản lý như: Hệ thống cầu — đường, kênh mương nội đồng, các cơ sở giáo dục, y tế, văn hoá, thê thao. Qua cách phân loại này nhăm xác định rõ trách nhiệm, nâng cao tính chủ động của các cấp chính quyền địa phương trong việc khai thác các nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ở địa phương, đồng thời có biện pháp quản lý sử dụng tốt cơ sở hạ tang trong phạm vi quản lý — Theo tinh chất đặc điểm của mỗi loại, cơ sở hạ tang được phân thành: co sở hạ tầng mang hình thái vật chất và phi vật chất.
Cơ sở hạ tầng mang hình thái vật chất bao gồm các công trình thuộc cơ sở hạ tầng như: Hệ thống đường giao thông, điện, kênh mương, trường học, công trình y tế, các cơ sở quốc phòng — an ninh, hệ thống thông tin liên lạc. Cơ sở hạ tầng mang hình thái phi vật chất là hệ thống thiết chế xã hội, cơ chế hoạt động, thủ tục hành chính, an ninh trật tự xã hội. đó là các yếu tố về điều kiện, môi trường phục vụ cho các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội. Từ cách thức phân loại cơ sở hạ tầng theo các tiêu thức khác nhau thành các loại hình cơ sở hạ tầng khác nhau nhằm giúp cho công tác phân cấp quản lý va đầu tư xây dựng, khai thác sử dụng các loại cơ sở hạ tầng phù hợp phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế — xã hội.