Luận văn thạc sĩ quản lý xây dựng đánh giá và phân bổ rủi ro trong các dự án giao thông theo hình thức đối tác công tư ppp ở việt nam

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật nghiên cứu quản lý xây dựng đánh giá và phân bổ rủi ro trong các dự án giao thông theo hình thức đối tác công, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên

Chuyên ngành

Quản lý xây dựng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

137
9
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Đánh giá rủi ro trong dự án giao thông PPP tại Việt Nam

Đánh giá rủi ro là bước quan trọng trong quản lý dự án giao thông theo hình thức PPP. Nghiên cứu này xác định 35 nhân tố rủi ro thông qua khảo sát 49 dự án và phỏng vấn chuyên gia. Các nhân tố được phân loại thành ba nhóm chính: kinh tế tài chính, pháp lý xã hội, và phát triển vận hành. Phương pháp Delphi được sử dụng để đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố. Kết quả cho thấy 16 nhân tố có ảnh hưởng cao, trong đó nhóm pháp lý xã hội có chỉ số rủi ro cao nhất (3.86). Điều này giúp các nhà đầu tư hiểu rõ hơn về rủi ro tiềm ẩn và đưa ra quyết định đầu tư phù hợp.

1.1. Phương pháp đánh giá rủi ro

Phương pháp Delphi được áp dụng để thu thập ý kiến từ các chuyên gia trong lĩnh vực PPP. Qua hai vòng khảo sát, các nhân tố rủi ro được xếp hạng dựa trên xác suất xảy ra và mức độ ảnh hưởng. Kết quả cho thấy các nhân tố như biến động chính sách, rủi ro thanh toán, và chậm trễ giải phóng mặt bằng có ảnh hưởng lớn nhất. Phương pháp này giúp đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy trong đánh giá rủi ro.

1.2. Kết quả đánh giá rủi ro

Kết quả đánh giá cho thấy nhóm pháp lý xã hội có chỉ số rủi ro cao nhất (3.86), tiếp theo là nhóm kinh tế tài chính (3.74) và phát triển vận hành (3.64). Các nhân tố như thay đổi chính sách, rủi ro thanh toán, và chậm trễ giải phóng mặt bằng được xác định là có ảnh hưởng lớn nhất. Điều này giúp các nhà đầu tư tập trung vào các rủi ro chính và đưa ra chiến lược quản lý hiệu quả.

II. Phân bổ rủi ro trong dự án giao thông PPP tại Việt Nam

Phân bổ rủi ro là yếu tố then chốt trong thành công của các dự án PPP. Nghiên cứu này đề xuất mô hình phân bổ rủi ro dựa trên lý thuyết mờ, xác định tỷ lệ phân bổ giữa khu vực công và tư nhân. Bốn tiêu chí chính được sử dụng để đánh giá khả năng quản lý rủi ro của từng bên. Kết quả cho thấy khu vực công có khả năng quản lý tốt hơn các rủi ro liên quan đến chính sách và pháp lý, trong khi khu vực tư nhân phù hợp hơn với các rủi ro về tài chính và vận hành.

2.1. Tiêu chí phân bổ rủi ro

Bốn tiêu chí chính được sử dụng để phân bổ rủi ro bao gồm: khả năng kiểm soát, khả năng chịu đựng, hiệu quả quản lý, và chi phí quản lý. Các tiêu chí này được đánh giá thông qua phương pháp Delphi và phân tích mờ. Kết quả cho thấy khu vực công có khả năng quản lý tốt hơn các rủi ro liên quan đến chính sách và pháp lý, trong khi khu vực tư nhân phù hợp hơn với các rủi ro về tài chính và vận hành.

2.2. Mô hình phân bổ rủi ro

Mô hình phân bổ rủi ro dựa trên lý thuyết mờ được xây dựng để xác định tỷ lệ phân bổ giữa khu vực công và tư nhân. Kết quả cho thấy khu vực công nên chịu trách nhiệm chính về các rủi ro liên quan đến chính sách và pháp lý, trong khi khu vực tư nhân phù hợp hơn với các rủi ro về tài chính và vận hành. Mô hình này giúp tối ưu hóa hiệu quả quản lý rủi ro và đảm bảo sự công bằng trong phân bổ trách nhiệm.

III. Thực trạng và thách thức của dự án giao thông PPP tại Việt Nam

Các dự án giao thông PPP tại Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm thiếu hành lang pháp lý rõ ràng, phân bổ rủi ro không minh bạch, và sự chồng chéo trong quản lý. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc thiếu luật đầu tư PPP cụ thể dẫn đến sự không rõ ràng trong phân bổ rủi ro và quản lý dự án. Điều này làm giảm sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư tư nhân và ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai dự án.

3.1. Hành lang pháp lý

Việc thiếu luật đầu tư PPP cụ thể dẫn đến sự không rõ ràng trong phân bổ rủi ro và quản lý dự án. Các văn bản pháp lý hiện hành chỉ dừng ở mức nghị định, gây ra sự chồng chéo và thiếu sót trong quản lý. Điều này làm giảm sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư tư nhân và ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai dự án.

3.2. Phân bổ rủi ro không minh bạch

Phân bổ rủi ro giữa khu vực công và tư nhân vẫn chưa rõ ràng, đặc biệt là trong các dự án có thời gian kéo dài và rủi ro lớn. Sự không minh bạch trong phân bổ rủi ro làm tăng lo ngại của các nhà đầu tư và ảnh hưởng đến sự thành công của dự án. Nghiên cứu đề xuất cần có sự minh bạch và công bằng trong phân bổ rủi ro để thu hút đầu tư tư nhân.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1.1 Giới thiệu Trong tình hình nhu cầu vốn dau tu cơ sở hạ tang kỹ thuật của Việt Nam nói chung và mỗi địa phương nói riêng là rất lớn, trong khi đó ngân sách nhà nước thì có hạn, vốn của các nhà tài trợ ngày càng thu hẹp, mô hình đâu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) có kha năng như một đòn bay dé huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân cả trong và ngoài nước cho đầu tư cơ sở hạ tang trong tình hình hiện nay. PPP (Public-Private Partnership) là việc nhà nước và nhà đầu tư cùng phối hop thực hiện dự án phát triển kết câu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công trên cơ sở hợp đồng dự án. Với mô hình PPP, Nhà nước sẽ thiết lập các tiêu chuẩn về cung cấp địch vụ và tư nhân được khuyến khích cung cấp bằng cơ chế thanh toán theo chất lượng dịch vụ. Đây là hình thức hợp tác tối ưu hóa hiệu quả đầu tư và cung cấp dịch vụ công cộng chất lượng cao, nó sẽ mang lại lợi ích cho cả nhà nước và người dân.

Hoạt động đầu tư theo hình thức PPP hiện nay được quy định tại nghị định số 63/2018/NĐ-CP (thay thế nghị định số 15/2015/NĐ-CP) - Về dau tư theo hình thức đối tác công tư, nghị định 30/2015/ND-CP- Quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đấu thầu về lựa chọn nhà dau tư va một số thông tư, văn bản hướng dẫn có liên quan. Trong năm 2016, Danh mục 108 dự án PPP ưu tiên triển khai trong giai đoạn 2016 - 2020 với tong mức đâu tư lên tới 375.000 ty đồng đã được Bộ Kế hoạch và Dau tư trình Thủ tướng Chính phủ. Trong đó, có 26 dự án đặc biệt ưu tiên cấp quốc gia với tổng mức dau tư 255.000 tỷ đồng, nhu cầu vốn dau tư của Nhà nước tham gia thực hiện khoảng 97. Đây là những dự án về cơ bản có khả năng thu hỏi vốn, được nhiều nhà đầu tư quan tâm.

Việc lựa chọn được danh mục dự án có ý nghĩa quan trọng, tạo tiền dé cho việc triển khai chương trình PPP thời gian tới. Tuy nhiên, việc thực hiện mô hình PPP hiện nay vẫn còn nhiều vướng mắt và chưa thực sự hap dẫn các nhà đầu tư nước ngoài: + Xung đột pháp lý: Chưa có luật đầu tư theo cơ chế PPP. Các văn bản quy phạm pháp luật quy định về hình thức đầu tư PPP hiện chỉ dừng lại ở mức nghị định của chính phủ nên hành lang pháp lý về hoạt động này vẫn còn phụ thuộc vào các luật như: Luật Doanh HVTH: NGUYEN PHAN XUAN BACH — 1670070 nghiệp, Luật Đâu thầu, Luật Dau tư công. dan đến sự chồng chéo, không rõ ràng và thiêu sót để có thể thực hiện được.

+ Phân bồ rủi ro giữa khu vực nhà nước và tư nhân vẫn chưa rõ ràng: do dự án PPP có thời gian kéo dài, rủi ro rất lớn, nên trong quá trình đàm phán ký kết hợp đồng, cần đánh giá rõ những tac động rủi ro tới cả phía Nhà nước và nhà dau tư, dé từ đó phân bố, quan lý rủi ro một cách hiệu quả. Do đó, tác giả chọn dé tài dé nghiên cứu cho luận văn này là “DANH GIA VA PHAN BO RỦI RO TRONG CAC DỰ AN GIAO THONG THEO HÌNH THỨC DOI TAC CONG TƯ (PPP) Ở VIỆT NAM”. Đây là một trong những van dé quan trong mà cả khu vực nhà nước và nha đâu tư đều rất quan tâm.1 Cơ sở hạ tang giao thông đường bộ Cơ sở hạ tang giao thông đường bộ bao gồm toàn bộ điều kiện vật chất kỹ thuật như: hệ thống cầu, đường bộ, các công trình, thiết bị phụ trợ, các trạm nghỉ đường bộ và thé chếc hính sách quản lý cũng như môi trường hoạt động gắn với giao thông đường bộ dé đáp ứng yêu cau phát triển kinh tế xã hội.3 Khao sat Delphi Khao sat Delphi là một trong những phương pháp thu thập dữ liệu thực nghiệm được sử dụng pho biến nhất trong nghiên cứu quản lý xây dung và khảo sát đánh giá (Hon et al. Nó được áp dụng rộng rãi ở nhiều khu vực phức tạp, nơi đòi hỏi xây dựng sự đồng thuận hoặc hội tụ ý kiến về một chủ đề thực tế (Chan et al., 2001) bằng cách sử dụng một loạt các bảng câu hỏi được thực hiện qua nhiều lần lặp lại dé thu thập dữ liệu từ các chuyên gia (Young va Jamieson, 2001, Hsu và Sandford, 2007, Chan và cộng sự, 2001, Ye ung và cộng sự, 2007).

Do đó, phương pháp Delphi được sử dụng làm công cụ thu thập đữ liệu chính để có được quan điểm không thiên vị của các chuyên gia trong lĩnh vực hạ tầng theo hình thức đối tác tác công tư Các vòng khảo sát Số vòng trong một nghiên cứu Delphi nhăm mục dich tạo sự đồng thuận giữa các chuyên gia băng cách giảm thiêu sự khác biệt trong các câu trả lời của ho và nâng cao HVTH: NGUYEN PHAN XUAN BACH — 1670070 tính chính xác thông qua quá trình lặp lại. Số vòng trong phương pháp Delphi được xác định bởi mức độ mong muốn của nhà nghiên cứu, phô biến là hai đến ba vòng để giảm sự mệt mỏi và tối ưu hóa tỷ lệ phản hồi giữa những người tham gia. Vong | của cuộc khảo sat Delphi dé thiét lập một bộ các nhân tố rủi ro chính, các tiêu chí quản lý rủi ro chính liên quan đến dự án PPP giao thông. Các chuyên gia được yêu cau đánh giá tam quan trọng tương đối của từng nhân tố rủi ro, tiêu chí quản lý rủi ro theo một thang điểm 5 cấp (1 = không quan trọng, 5 = cực kì quan trọng).

Vòng 2: 31 chuyên gia có kinh nghiệm nhất trong số các chuyên gia đã được khảo sát ở vòng | trong cả hai khu vực công và tư được mời xem kết quả đã được thống kê ở vòng | ( trị trung bình, xếp hạng.), và được dé nghị xem xét lại câu trả lời. Vòng 3 tập trung vào kiến thức và kinh nghiệm của các chuyên gia PPP về phân bồ các yếu tố rủi ro quan trọng được thiết lập thông qua 2 vòng dau tiên. Các chuyên gia được mời đánh giá cho từng khu vực nhà nước và tư nhân về khả năng quản lý từng yếu t6 rủi ro đựa trên dự án PPP mà họ tham gia trực tiếp tham gia.2 Hình thức doi tác công tư — Public Private Partnership (PPP ) Đầu tu theo hình thức đối tác công tư (sau đây gọi tắt la PPP) là hình thức đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng dự án giữa cơ quan nhà nước có thầm quyên và nhà dau tư, doanh nghiệp dự án để xây dựng, cải tạo, vận hành, kinh doanh, quan ly công trình hạ tầng, cung cấp dịch vụ công. Theo quy định tại Nghị định 63/2018/NĐ-CP có các loại hợp đồng PPP như là: BOT, BTO, BOO, BT,.

Cụ thê: Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (sau đây gọi tắt là hop đồng BOT) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nha nước có thâm quyên và nhà dau tư, doanh nghiệp dự án để xây dựng công trình hạ tâng: sau khi hoàn thành công trình, nhà đâu tư, doanh nghiệp dự án được quyên kinh doanh công trình trong một thời hạn nhất định; hết thời han, nha dau tư, doanh nghiệp dự án chuyển giao công trình đó cho cơ quan nhà nước có thâm quyên. Hợp đồng Xây dựng - Chuyến giao - Kinh doanh (sau đây gọi tat là hợp đồng BTO) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nha nước có thâm quyên và nhà dau tư, doanh nghiệp dự án để xây dựng công trình hạ tâng: sau khi hoàn thành công trình, nhà đâu tư, doanh HVTH: NGUYEN PHAN XUAN BACH — 1670070 nghiệp dự án chuyển giao cho cơ quan nhà nước có thâm quyển va được quyên kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định. Hop dong Xây dựng - Chuyển giao (sau đây gọi tắt là hợp dong BT) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thầm quyên va nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án (nếu có) dé xây dung công trình ha tầng: sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho cơ quan nhà nước có thâm quyên và được thanh toán băng quỹ dat, trụ sở làm việc, tài sản kết câu hạ tầng hoặc quyền kinh doanh, khai thác công trình, dich vụ dé thực hiện Dự án khác. Hợp dong Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh (sau đây gọi tat là hợp đồng BOO) là hợp đồng được ký giữa co quan nhà nước có thẩm quyên và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để xây dựng công trình hạ tâng: sau khi hoàn thành công trình, nhà đâu tư, doanh nghiệp dự án sở hữu và được quyên kinh doanh công trình trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án châm dứt hoạt động của dự an đầu tư theo quy định của pháp luật về dau tư.

Hợp dong Xây dựng - Chuyển giao - Thuê dich vụ (sau đây gọi tắt là hop đông BTL) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nha nước có thâm quyên và nhà dau tư, doanh nghiệp dự án để xây dựng công trình hạ tâng: sau khi hoàn thành công trình, nhà đâu tư, doanh nghiệp dự án chuyển giao cho co quan nhà nước có thâm quyển và được quyền cung cấp dịch vụ trên cơ sở vận hành, khai thác công trình đó trong một thời hạn nhất định; cơ quan nhà nước có thâm quyên thuê dịch vụ và thanh toán cho nhà đâu tư, doanh nghiệp dự án. Hợp dong Xây dựng - Thuê dịch vụ - Chuyển giao (sau đây gọi tat là hop đồng BLT) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nha nước có thâm quyên và nhà dau tư, doanh nghiệp dự án để xây dựng công trình hạ tâng: sau khi hoàn thành công trình, nhà đâu tư, doanh nghiệp dự án được quyên cung cấp dịch vụ trên cơ sở vận hành, khai thác công trình đó trong một thời hạn nhất định; cơ quan nhà nước có thâm quyên thuê dich vụ va thanh toán cho nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án; hết thời hạn Cung cấp dịch vụ, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án chuyền giao công trình đó cho cơ quan nhà nước có thâm quyên. HVTH: NGUYEN PHAN XUAN BACH — 1670070 Hợp dong Kinh doanh - Quản lý (sau đây gọi tắt là hợp đồng O&M) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thâm quyên và nhà dau tư, doanh nghiệp dự án để kinh doanh một phần hoặc toàn bộ công trình trong một thời hạn nhất định. Hợp đồng hồn hợp là hợp đồng dự án kết hợp các loại hợp dong trên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đánh Giá Và Phân Bổ Rủi Ro Trong Dự Án Giao Thông PPP Tại Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc đánh giá và phân bổ rủi ro trong các dự án giao thông theo hình thức đối tác công tư (PPP) tại Việt Nam. Tài liệu này không chỉ phân tích các yếu tố rủi ro mà còn đề xuất các phương pháp quản lý hiệu quả nhằm tối ưu hóa kết quả dự án. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ việc hiểu rõ cách thức phân bổ rủi ro, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn quản lý dự án của mình.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý rủi ro trong các dự án PPP, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức đối tác công tư ppp tại thành phố đà nẵng, nơi cung cấp cái nhìn chi tiết về thực tiễn tại Đà Nẵng. Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố tổ chức quản lý đến kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ tại việt nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa quản lý và hiệu quả dự án. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư theo pháp luật việt nam thực trạng trong đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ qua hình thức đầu tư bot sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về thực trạng đầu tư PPP trong lĩnh vực giao thông. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá cho những ai muốn nâng cao hiểu biết về quản lý rủi ro trong các dự án giao thông tại Việt Nam.