Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường trung học phổ thông. Chương 2: Thực trạng về quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Chương 3: Một số biện pháp quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SỰ PHỐI HỢP NHÀ TRƢỜNG – GIA ĐÌNH – XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh Ở Việt Nam, vấn đề giáo dục đạo đức đã và đang trở thành mối quan tâm của các nhà sư phạm và các nhà quản lý giáo dục nói riêng. Trong các văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam đã thường xuyên thể hiện sự quan tâm đến việc xây dựng con người Việt Nam, đặc biệt là đạo đức của con người Việt Nam qua từng thời kì. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc phối hợp giữa nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh, coi đó là nguyên tắc cơ bản đảm bảo kết quả giáo dục trong các loại hình trường.
Các nhà giáo dục đã quan tâm nghiên cứu và từng bước giải quyết vấn đề này ở nhiều góc độ khác nhau. Một số công trình nghiên cứu về vấn đề này: - “Sự kết hợp giáo dục của nhà trường, gia đình và của xã hội”, chương 20 Giáo trình Giáo dục học, Tập II, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội 1988 của tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt. - “Nâng cao tính thống nhất giữa giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội trong điều kiện mới”, tập thể tác giả ở Trung tâm Giáo dục học, thuộc Viện Khoa học Giáo dục, 1993. - “Những quan điểm phương pháp luận của việc liên kết giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh hiện nay”, tác giả Nguyễn Thị Kỷ, Viện Khoa học Giáo dục, 1996.
- “Phối hợp việc giáo dục gia đình với nhà trường và các thể chế xã hội khác”, tác giả Phạm Khắc Chương (chủ biên), Nhà xuất bản Giáo dục, 1998. Những nghiên cứu trên đã đưa ra các cơ sở lý luận cơ bản và bước đầu đề xuất các mô hình tổ chức thực hiện sự phối hợp các lực lượng giáo dục giữa nhà trường, gia đình, xã hội, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục học sinh. Các tác 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giả đã dùng các khái niệm khác nhau: “thống nhất”, “hợp tác”, “kết hợp”, “phối hợp”, “liên kết”, các khái niệm về giáo dục (theo nghĩa rộng, nghĩa hẹp), mối tương quan giữa nhà trường, gia đình, xã hội trong giáo dục học sinh. Các tác giả đã chỉ ra những lý luận về sự cần thiết phải kết hợp việc giáo dục của nhà trường, gia đình và xã hội, đã chỉ ra vai trò quan trọng của gia đình trong việc giáo dục con em, việc giáo dục học sinh và cần phải nâng cao tính thống nhất trong sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội.
Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh Những năm gần đây đã có một số tác giả nghiên cứu vấn đề quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh, như: - “Tổ chức liên kết giữa nhà trường với gia đình trong công tác giáo dục học sinh của một số trường trung học cơ sở ở thành phố Huế”, Lê Thị Hoa, Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục, Đại học Sư phạm Huế, 1999. - “Biện pháp tăng cường quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình của Hiệu trưởng các trường trung học phổ thông huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp”, Nguyễn Minh Tâm, Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục, Đại học Sư phạm Huế, 2007. - “Quản lý sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở thị trấn Lương Bằng, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, Trần Thị Mai Hanh, Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục, Đại học Giáo dục, 2010. Các công trình nghiên cứu trên đã đưa ra những cơ sở lý luận cơ bản, những đề xuất về mô hình tổ chức thực hiện sự phối hợp các lực lượng giáo dục: nhà trường, gia đình và xã hội góp phần nâng cao chất lượng giáo dục học sinh.
Những nghiên cứu trên đồng thời cũng làm rõ các chức năng quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội và đưa ra các biện pháp tăng cường quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh. Tuy nhiên, trên địa bàn huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề này, đặc biệt trong bối cảnh vấn đề giáo dục đạo đức học sinh đang đặc biệt được quan tâm. Vì vậy, trong điều kiện công tác của mình, tác giả thấy cần có sự nghiên 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cứu về “Quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện An Lão, thành phố Hải Phòng”, nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh trên địa bàn huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1. Quản lý Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm. Nó xuất hiện từ khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt được với tư cách là những cá nhân riêng lẻ. Nó là một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới mục tiêu chung.
Con người trải qua bao nhiêu giai đoạn phát triển với những hình thái xã hội khác nhau thì cũng có bấy nhiêu kiểu quản lý. Quản lý vừa là biện pháp hành chính, vừa là nghệ thuật. Sau này khi khoa học phát triển, quản lý thành khoa học ứng dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội.Mac đã viết: “Bất cứ lao động xã hội hay công đồng trực tiếp nào được thực hiện ở một quy mô tương đối lớn, đều cần ở một chừng mực nhất định đến sự quản lý. Quản lý xác lập sự tương hợp giữa các công việc cá thể và hoàn thành những chức năng chúng xuất hiện trong sự vận động của các bộ phận riêng rẽ của nó” [26, tr.
Như vậy, bản chất của quản lý là một loại lao động để điều khiển lao động. Xã hội ngày càng phát triển, các loại hình lao động phong phú, phức tạp thì hoạt động quản lý càng có vai trò quan trọng. Nhiều nhà nghiên cứu lí luận Liên bang Nga cho rằng: Quản lý là một hệ thống xã hội, là khoa học, là nghệ thuật tác động (của chủ thể quản lý) vào hệ thống, chủ yếu là vào con người, nhằm đạt những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định. 9] Các tác giả nghiên cứu quản lý phương Tây cũng có những định nghĩa quản lý rất cụ thể như: “Quản lý chính là dự báo, lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra” [17, tr.W (1856-1915) đã định nghĩa “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng học đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và dễ nhất”.
Đó cũng là tư tưởng của ông về quản lý. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về quản lý. Theo Từ điển Tiếng Việt thì “Quản lý là hoạt động của con người tác động vào tập thể người khác để phối hợp, điều chỉnh, phân công thực hiện mục tiêu chung” [39, tr. 880] Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định.
Theo tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “Quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến nó nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà nhà quản lý mong muốn” [19, tr. Từ các khái niệm quản lý khác nhau, có thể hiểu một cách khái quát: quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đã đề ra. Để đạt được những mục tiêu đã định, quản lý phải thông qua các chức năng quản lý.
Chức năng quản lý chính là những nội dung, những phương thức hoạt động cơ bản mà trong quá trình quản lý, chủ thể quản lý sử dụng nó tác động đến đối tượng quản lý để thực hiện mục tiêu quản lý. Quản lý có bốn chức năng cơ bản. Các chức năng này luôn có mối quan hệ mật thiết, bổ sung, hỗ trợ cho nhau trong quá trình quản lý, bao gồm: Chức năng Kế hoạch, chức năng Tổ chức, chức năng Chỉ đạo và chức năng Kiểm tra. Chức năng Kế hoạch: là căn cứ vào thực trạng ban đầu của tổ chức vfa căn cứ vào nhiệm vụ được giao mà vạch ra mục tiêu của tổ chức trong từng thời kì, từng giai đoạn, từ đó tìm ra con đường, biện háp, cách thức đưa tổ chức đạt được mục tiêu đó.
Chức năng Tổ chức: là những nội dung phương thức hoạt động cơ bản trong việc thành lập cấu trúc của tổ chức mà nhờ cấu trúc đó chủ thể quản lý tác động lên các đối tượng quản lý một cách có hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu kế hoạch. Chức năng Chỉ đạo: là phương thức tác động của chủ thể quản lý nhằm điều hành tổ chức, nhân lực đã có của tổ chức, (đơn vị) vận hành theo đúng kế hoạch để thực hiện mục tiêu quản lý.