Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Có khá nhiều công trình nghiên cứu về năng lực giáo viên, phát triển năng lực giáo viên, quản lý phát triển năng lực giáo viên. Tổng hợp và phân loại có 2 hướng nghiên cứu với các nội dung như sau: Hướng nghiên cứu thứ nhất: Những công trình bàn về năng lực và phát triển năng lực giáo viên.
Ở những nước phát triển như Anh, Pháp, Mỹ, Hàn Quốc, Úc,… đều coi trọng nâng cao năng lực nghề nghiệp liên tục cho GV như là một yêu cầu của tiến trình cải cách giáo dục, điều này được thực hiện nghiêm ngặt ngay từ trong các trường sư phạm: Chương trình đào tạo giáo viên có tính linh động, có thể phát triển thường xuyên, chương trình cũng thể hiện rõ mục tiêu đào tạo theo hướng phát triển năng lực của giáo viên, đặc biệt để đào tạo giáo viên có kinh nghiệm chuyên môn (professional experience), chương trình đã dành một khoảng thời gian thích ứng để sinh viên được trải nghiệm thực tế nghề nghiệp ở trường phổ thông. Chương trình đào tạo giáo viên chú trọng kiến thức nền tảng rộng, không quá chuyên sâu, đảm bảo sự cân bằng giữa khối lượng kiến thức chuyên môn và kiến thức sư phạm với trải nghiệm thực tiễn ở trường phổ thông, chú trọng giáo dục kiến thức bản địa, cộng đồng địa phương. Về nội dung phát triển đội ngũ giáo viên chủ yếu là bồi dưỡng, phát triển chuyên môn, bồi dưỡng năng lực của đội ngũ giáo viên thể hiện trong nghiên cứu của tác giả X.Abdullina đưa ra cả một hệ thống lý luận và kinh nghiệm vững chắc trong lĩnh vực đào tạo và phát triển năng lực nghề nghiệp cho giáo viên. Ở Phần Lan, trong nghiên cứu của Hannele Niemi và Ritva Jakku-Sihvonen, các tác giả đã mô tả chi tiết và đã phân tích thuyết phục về những thay đổi quan trọng trong cấu trúc, nội dung chương trình bồi dưỡng giáo viên để nâng cao chất lượng giáo dục.
Cơ quan Giáo dục khu vực châu Á của UNESCO (ROEAP) đã tổ chức một Hội nghị về đào tạo, bồi dưỡng giáo viên 18 nước trong khu vực. Kết quả, Hội nghị tổng 5 kết một số kinh nghiệm về phát triển năng lực giáo viên như sau: Hoạt động bồi dưỡng và đào tạo đội ngũ nhà giáo ở các nước trên thế giới được tổ chức đa dạng, phong phú linh hoạt như các viện nghiên cứu, các trung tâm bồi dưỡng và đào tạo sư phạm. Tuy nhiên, tập trung nhất đa số Quốc gia đã giao cho trường Sư phạm có nhiệm vụ thực hiện hoạt động phát triển năng lực nhà giáo. Trong một tác phẩm nổi tiếng “Trường trung học Pavluts”, V.Xukhômlinxki đã trình bày một cách cụ thể chiến lược bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên thông qua việc dự giờ của từng giáo viên [25].
Trong xu thế đổi mới giáo dục theo hướng tiếp cận năng lực, các nhà khoa học giáo dục thế giới đã rất quan tâm nghiên cứu chuyên sâu về một số năng lực của GV, trong đó chú ý là năng lực nghiên cứu sư phạm ứng dụng, bằng cách này, GV sẽ lĩnh hội được các kỹ năng mới về tìm hiểu thông tin, giải quyết vấn đề, nhìn lại quá trình, giao tiếp và hợp tác, GV sẽ có cơ sở để phát triển các năng lực cần thiết khác trong dạy học và giáo dục học sinh. Hướng nghiên cứu thứ hai: Những công trình bàn về quản lý phát triển năng lực giáo viên. Về nội dung quản lý phát triển năng lực giáo viên, một số tác giả đã quan tâm nghiên cứu, tuy nhiên số công trình nghiên cứu liên quan đến về vấn đề này không nhiều, nội dung quản lý bồi dưỡng được cập nhật ở các mức độ khác nhau. Về công tác quản lý phát triển năng lực GV: "Vai trò của lãnh đạo trong quản lý hoạt động bồi dưỡng có ảnh hưởng quan trọng vào thành tích học tập, bồi dưỡng của giáo viên của tổ chức OECD đã khẳng định lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng hiệu quả là tạo ra một môi trường thuận lợi, môi trường giá trị, tạo tâm lý cho giáo viên có động cơ tự học, tự bồi dưỡng, tự kiểm soát hoạt động bồi dưỡng của bản thân" [22].A Xukhomlinski việc lập kế hoạch phát triển năng lực giáo viên là một khâu vô cùng quan trọng.
Do vậy, trong mỗi nhà trường cần lập kế hoạch cụ thể và chi tiết. Trong thời điểm tổ chức phát triển năng lực thì các nhà nghiên cứu cho rằng công tác bồi dưỡng giáo viên không những tổ chức theo chu kì mà phải được bồi dưỡng thường xuyên, quanh năm. Nhiều nước trên thế giới luôn quan tâm đến lực lượng tham gia phát triển năng lực: Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, trưởng bộ môn, giáo viên có kinh nghiệm trong 6 nhà trường sẽ là lực lượng nòng cốt tham gia trong quá trình kèm cặp, giúp đỡ đồng nghiệp. Giáo viên có kinh nghiệm, có trình độ nghề nghiệp cao hướng dẫn tư vấn cho giáo viên mới cũng được thấy rõ ở các nước Anh, Hoa Kì, Thái Lan.
Ở Việt Nam Ở nước ta, lịch sử nghiên cứu các vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên gắn liền với lịch sử phát triển của nền giáo dục. Hơn 60 năm xây dựng và phát triển nền giáo dục thì hơn 50 năm không ngừng xây dựng và phát triển đội ngũ GV. Ngay từ những ngày đầu của nước Việt Nam độc lập, Đảng và Nhà nước ta đã dành sự quan tâm sâu sắc tới việc phát triển đội ngũ giáo viên và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng khẳng định: "Nếu không có thầy cô giáo thì không có giáo dục". Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, công nghệ thông tin, khoa học kĩ thuật phát triển như vũ bão.
Để đào tạo được những công dân tốt đáp ứng nhu cầu đổi mới đất nước rất cần nâng cao chất lượng của đội ngũ giáo viên. Có thể nói, năng lực của đội ngũ giáo viên quyết định lớn tới chất lượng và kết quả giáo dục. Ngược lại, chất lượng và hiệu quả giáo dục sẽ quyết định năng lực đội ngũ giáo viên đáp ứng nhu cầu đổi mới của xã hội. Có nhiều công trình nghiên cứu về phát triển năng lực GV, theo tác giả Trần Bá Hoành, năng lực của giáo viên bao gồm: năng lực chuẩn đoán nhu cầu và đặc điểm đối tượng dạy học, năng lực thiết kế kế hoạch, năng lực tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học, năng lực giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình dạy học, năng lực và phẩm chất (thể hiện ở lòng yêu nghề, mến trẻ) của GV tạo nên chất lượng GV [9].
Trong bài “Nghề và Nghiệp của người giáo viên” đăng tải trong Kỷ yếu Hội thảo nâng cao chất lượng đào tạo toàn quốc lần thứ 2, tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã đề cập tính chất nghề nghiệp của người giáo viên. Tác giả đã nhấn mạnh đến vấn đề “lý tưởng sư phạm”, cái tạo nên động cơ cho việc thực hành nghề dạy học của người GV, thôi thúc người GV sáng tạo, thúc đẩy người GV không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ [11]. Trong bài viết “Đổi mới mô hình đào tạo GV trong các trường đại học sư phạm theo hướng tiếp cận năng lực” đăng trên Tạp chí giáo dục (Tháng 1/2012), các tác giả TS Bùi Minh Đức, TS Đào Thị Việt Anh, ThS Hoàng Thị Kim Huyền đã nêu: Cùng với việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông theo hướng tiếp cận năng lực, các chương trình đào tạo và bồi dưỡng giáo viên cũng được cải tiến, điều chỉnh, thậm chí đổi mới toàn bộ theo chủ trương hình thành và phát triển các năng lực nghề nghiệp cho người dạy học [19]. 7 Đối với hoạt động quản lý phát triển năng lực giáo viên đã được một số tác giả đề cập trong các đề tài về phát triển đội ngũ giáo viên.
Tác giả Lục Thị Nga (2007) với đề tài "Quản lý hoạt động tự bồi dưỡng sư phạm của giáo viên trường THCS trong giai đoạn hiện nay” [13]. Những biện pháp quản lý bồi dưỡng giáo viên được thể hiện trong các công trình nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên của tác giả Đỗ Thế Hưng, Quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học cho giảng viên trường Đại học văn hóa nghệ thuật quân đội [10], Tác giả Ngô Thị Minh Thực (2014), Quản lý bồi dưỡng giảng viên cao đẳng sư phạm đáp ứng đổi mới giáo dục hiện nay [16]. Tác giả Đồng Thế Hiển (2016), Quản lý bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh các trường đại học [7]. Các biện pháp quản lý phát triển năng lực giáo viên còn được được đề cập trong một số công trình về phát triển đội ngũ giáo viên các trường trung học phổ thông có các công trình của tác giả Trần Kiểm và Phạm Minh Hạc.
Tóm lại: Quản lý phát triển năng lực giáo viên đã được nhiều tác giả đưa ra trong các đề tài nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Tuy nhiên, đến nay chưa có một đề tài nghiên cứu khoa học nào đề cập đến vấn đề quản lý phát triển năng lực GV THCS thành phố Cẩm Phả, Quảng Ninh. Vì vậy, việc nghiên cứu “Quản lý phát triển năng lực giáo viên ở các trường THCS thành phố Cẩm Phả, Quảng Ninh đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông” là rất cần thiết. Một số khái niệm 1.
Giáo viên, giáo viên THCS Luật Giáo dục (2005) xác định: “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác” (khoản 1, điều 70). Cụ thể hơn tại khoản 3 điều 70, Luật Giáo dục còn nêu rõ “Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên” [12]. Ðiều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học, ở chương IV, điều 30 có nêu: “Giáo viên trường trung học là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường gồm: hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, giáo viên bộ môn, giáo viên làm công tác Ðoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh (bí thư, phó bí thư hoặc trợ lý thanh niên, cố vấn Ðoàn) đối với trường trung 8 học có cấp THPT, giáo viên làm tổng phụ trách Ðội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh (đối với trường trung học có cấp tiểu học hoặc cấp THCS)” [4].