CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ GẮN VỚI TĂNG TRƯỞNG XANH 1. CÁC NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC 1. Sách và giáo trình Tác giả Võ Kim Cương trong “Quản lý phát triển đô thị - Ý tưởng và trải nghiệm” cho rằng công tác quản lý phát triển đô thị (QLPTĐT) là một công việc mới. Mới vì đất nước ta mới bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, cũng là bước vào quá trình ĐTH chưa bao lâu.
Tác phẩm đã trình bày rõ ràng các nội dung về QLPTĐT; đánh giá quá trình ĐTH tại Việt Nam; đồng thời đưa ra các nội dung về quy hoạch đô thị (QHĐT), QLPTĐT; các nội dung quản lý đất đai và nhà ở, hạ tầng và dịch vụ đô thị [27]. Với các tác phẩm cùng tên “Quản lý đô thị”, các tác giả Nguyễn Đình Hương với [43], Nguyễn Ngọc Châu [15] và Phạm Trọng Mạnh [45] đã cùng phân tích lịch sử phát triển đô thị và từ đó trình bày cách thức quản lý PTĐT qua các giai đoạn, thời kỳ. Mỗi thời kỳ cho thấy có cách tiếp cận khác nhau để quản lý đô thị. Các tác phẩm đều nhấn mạnh vai trò của nhà nước trong quá trình chuyển hướng và cải cách các dịch vụ ở đô thị và thực hiện các chính sách làm cơ sở để quản lý đô thị ở các phạm vi, lĩnh vực khác nhau như: quản lý phát triển hệ thống đô thị quốc gia; quy hoạch và quản lý các dịch vụ công cộng ở đô thị; quản lý QHXD đô thị; quản lý giao thông và vận tải đô thị; quản lý ngành cấp và thoát nước ở đô thị; quản lý môi trường và chất thải rắn (CTR) ở đô thị; quản lý bất động sản và nhà cửa ở đô thị; quản lý các lĩnh vực kết cấu hạ tầng ở đô thị; tài chính đô thị; đồng thời làm rõ nhiệm vụ và quyền hạn của các cấp chính quyền trong quản lý nhà nước về các nội dung QLPTĐT.
Nguyễn Thế Bá với “Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị” [5], Nguyễn Đăng Sơn trong “Phương pháp tiếp cận mới về quy hoạch và quản lý đô thị” [61] đều cho rằng có mối quan hệ không thể tách rời giữa quy hoạch và công tác quản lý đô thị và khẳng định các chính quyền đô thị cần có công cụ để thực hiện quản lý mọi hoạt đọng diễn ra hàng ngày ở đô thị. Quản lý đô thị hiện đại cần quan tâm đến việc quản lý theo kết quả thay vì quản lý theo các nhiệm vụ đầu vào. Theo đó, công tác quản lý đô thị cần thực hiện một loạt các bước để đảm bảo tính hệ thống gồm: xác định mục tiêu chiến lược, phân tích vấn đề, xác định các mục tiêu cụ thể, xác định các chỉ số đánh giá mục tiêu, sản phẩm đầu ra, xác định chỉ số đánh gia sđầu ra, kế hoạch hành động, nguồn lực thực hiện. Điều này có 7 nghĩa quản lý đô thị cũng cần chuyển sang quản lý đô thị theo các chiến lược ưu tiên, tương thích với quy hoạch chiến lược.
Có thể nói, các sách có liên quan đến lĩnh vực quản lý đô thị thời gian gần đây có tiếp cận mới trong quản lý đô thị. Thay vì đưa ra quy trình quản lý một cách thống, các sách thường tập trung bàn luận nhiều hơn đến các vấn đề mà đô thị phải đối mặt như một gợi ý cho công tác quản lý đô thị cần phải hướng đến quá trình định hướng, thực hiện, kiểm soát được các vấn đề này hơn. Các chính quyền đô thị được gợi ý cần có những sáng tạo để giải quyết các vấn đề của đô thị mình. Trần Ngọc Ngoạn và cộng sự với tác phẩm “Chính sách thúc đẩy TTX - Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam“ [50] đã rà soát và đánh giá các chính sách, quy định pháp luật về TTX ở Việt Nam.
Nghiên cứu đã đề cập tới tình hình thực hiện chính sách TTX ở Việt Nam. Tác phẩm chưa đưa ra được các gợi ý về điều chỉnh trong việc thực hiện và thực hiện như thế nào cho hiệu quả các chính sách thúc đẩy TTX. Tác phẩm chưa tập trung làm rõ vấn đề về TTX tại đô thị và QLPTĐT gắn với TTX. Luận án tiến sĩ Luận án tiến sĩ “Quản lý xây dựng theo quy hoạch khu đô thị mở rộng quận Hà Đông thành phố Hà Nội“ của tác giả Nguyễn Hoàng Minh [47] chỉ tập trung trình bày các nội dung về công tác quản lý xây dựng theo quy hoạch thành phố Hà Nội và khu đô thị (KĐT) mở rộng quận Hà Đông.
Tác giả đã đưa ra hệ thống các giải pháp hữu hiệu để hoàn thiện công tác quản lý xây dựng theo quy hoạch KĐT mở rộng quận Hà Đông. Tác giả đề xuất kiểm soát tiêu chí “Hệ số sử dụng đất - tầng cao trong quản lý xây dựng theo quy hoạch, gắn các chương trình ưu đãi với quản lý không gian KĐT mở rộng quận Hà Đông”. Luận án tiến sĩ “Chính sách thuế với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững tại Việt Nam“ của tác giả Ngô Văn Khương [44] tập trung cho một trong các công cụ quản lý đô thị dựa trên chính sách thuế. Đây chỉ là một khía cạnh trong quản lý đô thị và chiến lược TTX trong lĩnh vực kinh tế của nươc ta trong giai đoạn hiện nay.
Như vậy, nội dung của các luận án chỉ là một phần của vấn đề QLPTĐT, đặc biệt chưa đề cập mục tiêu TTX. Công trình khoa học Các nghiên cứu “Nghiên cứu các mô hình đô thị xanh trên thế giới và đề xuất giải pháp phát triển bền vững đô thị xanh trong điều kiện Việt Nam“ của Phạm Phương Anh và các cộng sự 2017 [2], “Nghiên cứu xu hướng TTX trên thế giới và đề xuất giải pháp phát triển 8 bền vững TTX tại Việt Nam”của nhóm tác giả Trần Thị Bích, Nguyễn Thị Hồng 2017 [7] đã trình bày các các nội dung cơ sở lý luận về TTX, đô thị xanh. Nghiên cứu đã đưa ra một số các tiêu chí đánh giá đô thị xanh theo các tiêu chí đánh giá của EU; tiêu chí đánh giá của thành phố môi trường theo Hiệp định Thành phố Môi trường của Liên Hiệp Quốc- 2005; tiêu chí đánh giá của thành phố môi trường của ASEAN. Các nhóm tác giả chủ yếu đề xuất giải pháp giải quyết các vấn đề của một đô thị nhằm đạt được mục tiêu đô thị xanh, chưa trực diện cho các vấn đề về QLPTĐT, gồm: hoàn thiện cơ chế chính sách về QLPTĐT; tổ chức thực hiện, huy động và quản lý nguồn vốn để PTĐT xanh; thúc đẩy các đô thị vừa và nhỏ hướng tới mô hình đô thị xanh trong đó quan tâm giải pháp về mật độ đô thị, sử dụng đất đô thị, hạ tầng kỹ thuật (HTKT) và giao thông theo hướng hạ tầng xanh, phát triển giao thông công cộng, hạn chế phát thải khí cacbonic; tổ chức không gian xanh, không gian mở đô thị.
Nghiên cứu “Chiến lược TTX của Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động” của Nguyễn Tuấn Anh 2014 [3] đã giới thiệu một cách tổng quát nhất về Chiến lược Quốc gia về TTX năm 2012 cũng như Kế hoạch hành động quốc gia về TTX giai đoạn 2014 - 2020 với 4 nhóm chủ đề chính gồm có: Xây dựng thể chế quốc gia và kế hoạch TTX tại địa phương; Giảm cường độ phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch; Thực hiện xanh hóa sản xuất và thực hiện sản xuất theo công nghệ và thương thức xanh và tiêu dùng bền vững. Tác giả nhấn mạnh rằng Chiến lược quốc gia về TTX không thể tách rời khỏi các chiến lược và chương trình khác mà phải được lồng ghép vào chiến lược phát triển kinh tế xã hội từ Trung ương đến địa phương. Nghiên cứu đóng góp một phần về lộ trình xây dựng chính sách và hoạt động QLPTĐT. Nghiên cứu với tiêu đề “Mô hình TTX khung phân tích và lựa chọn chính sách cho Việt Nam” [35], tác giả Nguyễn Trọng Hoài (2012) đã dựa vào khung phân tích TTX của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), nghiên cứu lựa chọn một số tiêu chí có khả năng đo lường nhằm đánh giá hiện trạng TTX của Việt Nam và từ đó đưa ra một số gợi ý chính sách cho tiếp cận mới này.
Tác giả cũng đã lựa chọn một số tiêu chí có khả năng đo lường nhằm đánh giá hiện trạng TTX của Việt Nam và những thách thức đặt ra trong việc hướng tới mô hình tăng trưởng này và từ đó đưa ra những gợi ý chính sách là Việt Nam nên nhấn mạnh sự kết hợp của nhiều công cụ chính sách khác nhau, sự phối hợp hành động của toàn xã hội, và sự hợp tác quốc tế để đạt được mục tiêu TTX. 9 Báo cáo với tiêu đề “Hướng tới TTX từ phát triển công nghiệp xanh tại Việt Nam của UNIDO (2012) [87] đã chia sẻ một số kết quả và bài học kinh nghiệm chủ yếu từ dự án hợp tác của UNIDO với Chính phủ Việt Nam về việc xây dựng một khung chính sách tổng thể cho Công nghiệp Xanh và đánh giá cơ hội và thách thức đối với một số ngành được chọn. Công nghiệp Xanh là một cách tiếp cận toàn diện có tác động lan tỏa rộng rãi, bắt đầu và tập trung vào công nghiệp, nhưng có liên quan đến tất cả mọi mặt của xã hội. Qua đây, UNIDO đã khẳng định rằng sáng tạo và đổi mới kỹ thuật là động lực cho các ngành công nghiệp xanh của tương lai, và đến lượt mình công nghiệp xanh sẽ là tác nhân xúc tiến việc làm xanh, tăng trưởng trong tương lai và PTBV hơn.
Chương trình hành động môi trường đô thị tăng trưởng xanh (TTX) Việt Nam (2015) [11], nhận định đô thị TTX là đô thị không chỉ đạt được bền vững về môi trường mà cả các mục tiêu kinh tế, xã hội và thể chế. Báo cáo đánh giá thực trạng để xác định mức độ áp dụng và lồng ghép các khái niệm TTX vào quá trình lập kế hoạch và quy hoạch không gian. Báo cáo rà soát các chỉ tiêu đô thị “xanh” hiện có, sau đó xác định và kiểm thử những chỉ tiêu phù hợp với đô thị TTX cho Việt Nam và kết luận về việc cần xây dựng bộ chỉ số TTX toàn diện trong bối cảnh pháp luật của Việt Nam.