đặt vấn đề quản lý từng công trình riêng lẻ trong tổng thể chung và trong mối quan hệ với các vấn đề, sự vật có liên quan. Đối với QLNN trong hoạt động xây dựng khu đô thị, khu nhà ở và chung cư, QLNN trong lĩnh vực này lại có các dấu hiệu, đặc điểm riêng nữa: 9 Một là, yêu cầu đầu tiên và quan trọng nhất là phải đảm bảo chủ đầu tư có quyền sử dụng đất hợp pháp, được cơ quan có thẩm quyền giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sơ hữu công trình khi dự án đã đưa vào sử dụng. Trên cơ sở này, nhà nước tiếp tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu căn hộ, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở đối với người nhận chuyển nhượng căn hộ chung cư hoặc lô đất (bao gồm đất nền hoặc lô đất đã xây dựng nhà ở) từ chủ đầu tư. Hai là, việc xây dựng phải được triển khai theo đúng các phân khu chức năng quy hoạch chung được duyệt và phải có giấy phép xây dựng sau khi được chấp thuận chủ trương đầu tư.
Ba là, việc xây dựng phải đảm bảo yêu cầu về tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành, kết nối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật chung của đô thị. Mỗi công trình là một bộ phận cấu thành của đô thị, việc khớp nối hệ thống hạ tầng kỹ thuật (bao gồm; giao thông, thoát nước, cấp điện, cấp nước) đảm bảo tính đồng bộ, sự gắn kết của công trình đó trong tổng thể quy hoạch phát triển đô thị của địa phương. Bốn là, phải tuân thủ theo quy hoạch, kiến trúc, trình tự, thủ tục trong đầu tư xây dựng; chịu trách nhiệm về chất lượng nhà ở đối với người nhận chuyển nhượng và trước nhà nước theo quy định pháp luật. Vai trò của QLNN về xây dựng Khi nói đến vai trò của QLNN về xây dựng là nói đến tác dụng, tầm quan trọng của hoạt động này trong đời sống kinh tế- xã hội của đất nước và từng địa phương, đặc biệt trên lĩnh vực quy hoạch- xây dựng đô thị, phát triển nông thôn.
Vai trò đó được thể hiện trong các mặt sau đây: Thứ nhất, QLNN về xây dựng có vai trò quan trọng trong việc xây dựng, phát triển đất nước; giúp cho ngành xây dựng thực hiện đúng đường lối, chính sách phát triển kinh tế, văn hóa của Đảng và nhà nước, sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn vốn đầu tư, khai thác tốt tài nguyên của đất nước, tận dụng tiềm lực sản xuất khác để xây dựng thành công cơ sở vật chất- kỹ thuật của đất nước. Thứ hai, hoạt động QLNN về xây dựng có ý nghĩa, vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế- xã hội quốc gia và 10 từng địa phương. Thông qua các chính sách quản lý phát triển và quy hoạch tổng thể các ngành, kinh tế- kỹ thuật, quy hoạch các vùng lãnh thổ, quy hoạch đô thị và nông thôn, quy hoạch các phân khu chức năng.góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế đi đôi với giải quyết các vấn đề an sinh- xã hội. Thứ ba, QLNN về xây dựng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm pháp chế trong quản lý lĩnh vực xây dựng.
Việc này đòi hỏi cao sự tuân thủ, chấp hành pháp luật cả từ phía cơ quan QLNN, cá nhân có thẩm quyền và các đối tượng chịu sự QLNN đó. Việc QLNN về xây dựng bằng pháp luật sẽ góp phần làm cho xã hội trật tự hơn, nề nếp hơn, ý thức chấp hành pháp luật của người dân liên quan đến hoạt động xây dựng cũng cao hơn. Thứ tư, tùy vào điều kiện cụ thể ở mỗi địa phương, QLNN về xây dựng còn có vai trò góp phần thực hiện chiến lược quy hoạch phát triển chung. Đơn cử như việc thành phố Vinh xây dựng đô thị theo mô hình đô thị đa cực, sinh thái phi tập trung, thì QLNN về xây dựng đóng vai trò là một trong những công cụ đặc biệt quan trọng trong việc góp phần thực hiện mục tiêu chiến lược chung.
Mỗi công trình của hoạt động xây dựng được xem là một bộ phận cấu thành gắn kết trong tổng thể quy hoạch chung của đô thị Vinh. Các nguyên tắc của QLNN về xây dựng QLNN về xây dựng phải được thực hiện theo các tư tưởng hay các nguyên tắc nhất định. Các nguyên tắc này vừa có tính khách quan, vừa có tính chủ quan, nó là nhân tố đảm bảo tính ổn định và tính hệ thống thống nhất của quản lý. QLNN về xây dựng phải tuân thủ các nguyên tắc chung về quản lý như đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, tập trung dân chủ, pháp chế, dân chủ., nhưng cũng có các nguyên tắc đặc trưng sau đây: Một là, phải đảm bảo xây dựng công trình theo đúng quy hoạch, thiết kế, đảm bảo mỹ quan công trình, bảo vệ môi trường và cảnh quan chung; phù hợp với điều kiện tự nhiên, đặc điểm văn hóa, xã hội của từng địa phương; kết hợp phát triển kinh tế- xã hội với quốc phòng, an ninh.
Hai là, tuân thủ quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn xây dựng. Bộ quy chuẩn này góp phần đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ trong áp dụng pháp luật vào 11 QLNN về xây dựng. Tuy nhiên, quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng có thể được cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung, thay đổi tùy theo yêu cầu phát triển thực tế trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Ba là, phải đảm bảo chất lượng, tiến độ, an toàn công trình, tính mạng con người và tài sản, phòng chống cháy nổ, vệ sinh môi trường.
Bốn là, bảo đảm xây dựng đồng bộ trong từng công trình, đồng bộ các công trình hạ tầng kỹ thuật. Năm là, bảo đảm tiết kiệm, có hiệu quả, chống lãng phí, thất thoát và các tiêu cực khác trong xây dựng. Nội dung quản lý nhà nƣớc về xây dựng Nội dung QLNN về xây dựng là những công việc mà hoạt động quản lý này phải thực hiện. Nội dung QLNN về xây dựng được khái quát trên các vấn đề cơ bản sau: Thứ nhất, xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, kế hoạch phát triển các hoạt động xây dựng.
Đây là hoạt động vĩ mô mang tính tiền đề của QLNN về xây dựng với sự tham gia của nhiều cơ quan ban ngành có thẩm quyền, có vai trò là kim chỉ nam cho các hoạt động khác, đặc biệt tác động trực tiếp tới công tác ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về xây dựng Thứ hai, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật xây dựng; các quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng. Luật pháp là công cụ để cơ quan QLNN sử dụng trong công tác quản lý của mình, đồng thời luật pháp cũng là mục tiêu để cơ quan nhà nước tổ chức thực hiện, đảm bảo mọi cá nhân, tổ chức đều phải tuân thủ. QLNN đối với hoạt động xây dựng đòi hỏi những người tham gia quản lý phải nắm rõ các quy định pháp luật đã được nhà nước ban hành đang còn hiệu lực pháp luật. Hoạt động xây dựng pháp luật về xây dựng ngày càng được quan tâm.
Về cơ bản, hầu hết các nội dung QLNN về xây dựng đã được luật hóa và cụ thể hóa bằng nhiều văn bản dưới luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Ngoài những văn bản của Trung ương, chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện cũng đã ban hành thêm một số văn bản theo thẩm quyền quy định tại Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. 12 Trong nhiều năm quan, hệ thống pháp luật về xây dựng có chuyển biến rất mạnh mẽ, thể hiện sự đổi mới trong tư duy. Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật khác nhau liên quan đến từng hoạt động, làm công cụ pháp lý để quản lý như: những quy định về quy hoạch, về dự án đầu tư xây dựng, về khảo sát, về thiết kế, về lựa chọn nhà thầu, về thi công giám sát, về quản lý chất lượng công trình, nghiệm thu , bảo hành, bảo trì, bảo hiểm.
trong xây dựng. Trong những văn bản này có văn bản liên quan đến công tác QLNN, có những văn bản liên quan đến quản lý đầu tư kinh doanh, có những văn bản mang tính kỹ thuật như quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng. Trong năm 2018, dự kiến Quốc hội sẽ thông qua ba dự án luật quan trọng về xây dựng, đông thời Bộ xây dựng tổ chức triển khai Đề án hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng. Thứ ba, tổ chức bộ máy QLNN về xây dựng trong cả nước.
Bộ máy QLNN về xây dựng có vị trí đặc biệt quan trọng trong hoạt động QLNN về xây dựng nhằm hiện thực hóa trên thực tiễn các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và nhà nước ta về xây dựng. Toàn bộ hoạt động của bộ máy này sẽ được tiến hành trên cơ sở các quy định của pháp luật đã ban hành về QLNN về xây dựng. Bộ máy này được bố trí ở các bộ, ngành và địa phương, từ Trung ương đến địa phương, từ các cơ quan cấp trên đến các cơ quan cấp dưới và hoạt động đồng bộ, thống nhất theo các quy định chung trong phạm vi cả nước. Trong đó, tham gia công tác quản lý xây dựng gồm có bộ máy của Chính phủ, các Bộ, ngành, các địa phương từ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đến các quận, huyện, phường xã.
Thứ tư, quản lý chất lượng, lưu trữ hồ sơ công trình xây dựng, giám sát chất lượng thiết kế và xây dựng. Hoạt động QLNN về xây dựng nói chung, đặc biệt đối với xây dựng khu đô thị, khu nhà ở và chung cư không thể thiếu nội dung này. Trước hết là hoạt động quản lý chất lượng xây dựng, nhà nước- thông qua các biện pháp giám sát, thanh kiểm tra theo phân cấp- nhằm đảm bảo cho chất lượng các công trình được đáp ứng theo yêu cầu thiết kế tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Các hoạt động thiết kế và nhất là thi công công trình luôn chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro, có thể gây thiệt hại lớn về người và tài sản.
Do vậy, 13 trong hoạt động QLNN về xây dựng, nhà nước cũng luôn có các biện pháp giám sát, can thiệp nhằm bảo đảm việc tuân thủ thực hiện pháp luật của các tổ chức, cá nhân có liên quan.