Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm quản lý nhà nước Khái niệm quản lý: Có nhiều cách định nghĩa khái niệm quản lý khác nhau tùy theo cách tiếp cận khác nhau. Nhìn chung, quản lý là một khái niệm gắn với quyền lực ở mức độ nhất định.
Khái niệm quản lý được định nghĩa trong từ điển Tiếng Việt như sau: “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”. Khái niệm quản lý ở đây là muốn nói đến quản lý con người, quản lý xã hội và biểu hiện cụ thể nhất là ở quản lý nhà nước. Theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp thuật ngữ “Quản lý nhà nước” được hiểu như sau: Theo nghĩa rộng: Từ việc thông qua các văn bản quy phạm pháp luật để thực thi quyền lực nhà nước, quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp). Theo nghĩa hẹp: Nhằm đạt được những mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ quản lý nhà nước phải thực hiện quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi của con người theo pháp luật, quá trình đó chính là quản lý nhà nước.
Song với mục đích xây dựng, tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình các cơ quan nhà nước còn thực hiện các hoạt động có tính chấp hành, điều hành, hành chính nhà nước. Từ những điểm chung của các quan niệm trên, có thể hiểu: Quản lý nhà nước là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước. Khái niệm về nông thôn mới Khái niệm nông thôn đã được nhắc cụ thể tại Điều 1 trong Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT của về hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã". NTM được xác định trong Nghị quyết 26-NQ/TW là khu vực nông thôn từng bước hiện đại kết cấu hạ tầng KT- XH; hợp lý các hình thức tổ chức sản xuất và cơ cấu kinh tế, nông nghiệp được gắn với công nghiệp phát triển nhanh, dịch vụ; phát triển nông thôn gắn với đô thị theo quy hoạch; môi trường sinh thái được bảo vệ; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân ngày càng được nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người; an ninh trật tự được giữ vững; theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Khái niệm về quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới Từ khái niệm “Quản lý nhà nước” và khái niệm về “nông thôn mới”, có thể hiểu: Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới là nhằm tác động tới sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực nông thôn, Nhà nước thực hiện vai trò của mình thông qua việc hoạch định chiến lược, xây dựng các chính sách, kế hoạch và triển khai các chương trình hỗ trợ, từ đó làm cho nông thôn phát triển toàn diện và đồng bộ, từng bước hiện đại kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội; làng xã văn minh, sạch đẹp; sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; an ninh trật tự được giữ vững dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; hệ thống chính trị vững mạnh và được tăng cường; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới 1. Chủ thể quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới Hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước là một trong các yếu tố giúp nhà nước quản lý hoạt động XD NTM một cách thống 8 n nhất, có tổ chức chặt chẽ, mang tính khoa học, nhất quán. Nhà nước ta quy định rất rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan chuyên môn theo cấp hành chính để phối hợp thực hiện XD NTM.
Hệ thống các cơ quan, tổ chức được xây dựng và kiện toàn từ TW tới địa phương sẽ vận hành theo định hướng của Đảng và Nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để triển khai các nội dung quản lý. Theo đó mỗi địa phương thành lập Ban chỉ đạo XD NTM, Văn phòng điều phối, Ban quản lý, Ban Giám sát để tuyên truyền, quản lý, chỉ đạo hướng dẫn thực hiện chương trình. Ngày 01/7/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1013/QĐ- TTg về việc thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương CTMTQG XDNTM, giai đoạn 2010 – 2020, trên cơ sở đó Ban Chỉ đạo TW tiếp tục xây dựng và ban hành kế hoạch triển khai CTMTQG XDNTM, giai đoạn 2010 – 2020, trong đó nêu rõ việc thành lập BCĐ – cơ quan tham mưu giúp việc trong quản lý nhà nước về XD NTM ở các cấp như sau: a) BCĐ TW: Theo Quyết định số 1013/QĐ-TTg, BCĐ TW CT MTQG XDNTM giai đoạn 2010 - 2020 gồm 24 thành viên; Ban hành Quy chế hoạt động, phân công trách nhiệm cụ thể đối với các thành viên của BCĐ TW; - Thành lập Thường trực BCĐ TW, gồm Trưởng ban, phó Trưởng ban và 3 ủy viên là lãnh đạo các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính và Xây dựng; - Thành lập Văn phòng điều phối Chương trình giúp Ban Chỉ đạo Trung ương đặt tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quyết định). b) Cấp tỉnh: + Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng ban BCĐ của tỉnh.
BCĐ bao gồm Phó Ban thường trực là Phó Chủ tịch UBND tỉnh và 01 Phó ban là Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; các thành viên BCĐ có thành phần tương tự BCĐ TW. Thường trực BCĐ cấp tỉnh là Trưởng ban, các phó trưởng ban và 3 ủy viên là đại diện lãnh đạo các Sở: Xây dựng, Kế hoạch - Đầu tư, Tài chính; 9 n + Thành lập Văn phòng điều phối CT MTQG NTM đặt tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh, giúp BCĐ tỉnh thực hiện Chương trình trên địa bàn. c) Cấp huyện, thị xã (gọi chung là huyện): + BCĐ của huyện do Chủ tịch UBND dân huyện làm Trưởng ban; Phó Chủ tịch UBND là Phó Trưởng ban. Thành viên gồm lãnh đạo các phòng, ban có liên quan của địa phương; + Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (hoặc Phòng Kinh tế) là cơ quan thường trực điều phối, giúp BCĐ huyện thực hiện Chương trình trên địa bàn.
d) Cấp xã: thành lập Ban Quản lý XD NTM xã do Chủ tịch UBND xã làm Trưởng ban; Phó Chủ tịch UBND xã là Phó Trưởng ban. Thành viên là một số đại diện cơ quan chuyên môn và đại diện một số Ban, ngành, đoàn thể chính trị xã. Đi đôi với thành lập bộ máy giúp việc, cần tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, xây dựng chế độ đãi ngộ xứng đáng đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm việc ở NT, đặc biệt là cán bộ chuyên trách về NTM. Kinh nghiệm thành công trong XD NTM chỉ ra rằng, một tập thể lãnh đạo có năng lực, có trách nhiệm chính là điều kiện quan trọng quyết định thành công.
Chính vì vậy, công tác đào tạo cán bộ cơ sở được coi trọng, bởi đây là lực lượng trực tiếp triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về XD NTM. Sự năng động và tinh thần trách nhiệm của họ đã dẫn dắt và khơi dậy tính sáng tạo của nông dân. Nhiều năm trở lại đây, Đảng và Nhà nước đã xây dựng và triển khai thực hiện nhiều Đề án về tuyển chọn, sử dụng và có những chế độ đãi ngộ để thu hút những người có đủ năng lực, trí tuệ và phẩm chất tham gia XD NTM (Đề án “Thí điểm tuyển chọn 500 trí thức trẻ tình nguyện về các xã tham gia PT nông thôn, miền núi giai đoạn 2013 - 2020”). Đối tượng của quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới 1.
Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới Do còn nhiều yếu kém của kết cấu hạ tầng điện, đường, trường, trạm, chợ, thủy lợi,vừa không đồng bộ, vừa thiếu; xuống cấp nhiều hạng mục, cứng hoá 10 n thấp tỷ lệ GTNT ; ít được quan tâm đầu tư đến giao thông nội đồng; cần được đầu tư nâng cấp hệ thống thuỷ lợi; chất lượng lưới điện nông thôn chưa thực sự an toàn; hạn chế về cơ sở vật chất về giáo dục, y tế, văn hoá, chưa đầu tư đồng bộ mạng lưới chợ nông thôn, xuống cấp nhiều trụ sở xã. Rất khó khăn trong việc xây dựng mặt bằng đặt chuẩn, dân cư còn phân bố nhỏ lẻ, khó phát triển kinh tế hộ. Xuất phát từ việc manh mún, nhỏ lẻ trong sản xuất nông nghiệp, còn hạn chế trong bảo quản chế biến, chế biến chưa được gắn với thị trường tiêu thụ sản phẩm; sức cạnh tranh chất lượng nông sản trên thị trường còn thấp. Sự kém phát triển trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế,cũng như trong ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp; chưa đồng bộ cơ giới hoá.
Do nông dân có thu nhập thấp; không nhiều doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn ; người sản xuất chưa liên kết chặt chẽ với các thành phần kinh tế khác ở khu vực nông thôn. Còn nhiều yếu kém trong Kinh tế hộ, kinh tế trang trại, hợp tác xã. Còn quá nhiều tỷ lệ lao động nông nghiệp , ít cơ hội có việc làm mới tại địa phương , lao động nông lâm nghiệp qua đào tạo tỉ lệ còn thấp; còn nhiều hộ nghèo. Do nhân dân còn nhiều hạn chế về đời sống vật chất cũng như tinh thần, đang có nguy cơ mai một nhiều nét văn hóa truyền thống (tiếng nói, phong tục, trang phục…); còn nhiều nhà tạm, dột nát.
Hiện nay, chủ yếu phát triển tự phát, chưa theo quy hoạch kinh tế xã hội khu vực nông thôn. Do cần 3 yếu tố chính trong yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước đó là đất đai lao động kỹ thuật và vốn.