Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN 1. Quan niệm quản lý nhà nước về việc làm cho thanh niên 1. Quan niệm về thanh niên và việc làm cho thanh niên Quan niệm thanh niên: Tùy từng cách hiểu khác nhau mà khái niệm “thanh niên” được hiểu khá đa dạng. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Thanh niên là người còn trẻ, đang ở độ tuổi trưởng thành”[19].
Cách hiểu này vẫn còn chung chung, chưa có một giải thích rõ ràng. Chính vì thế, cần xác định độ tuổi để có một khái niệm rõ ràng về “Thanh niên là gì”. Điều 1 của Luật Thanh niên quy định: "… là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi". Thanh niên là một bộ phận đặc biệt của xã hội, có vị trí quan trọng trong suốt tiến trình phát triển lịch sử của đất nước.
Ngay từ khi đất nước vẫn còn chìm đắm trong chiến tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thức tỉnh, giác ngộ thanh niên đi theo Đảng, theo nhân dân để làm nên cuộc Cách mạng Tháng tám năm 1945 khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khởi đầu một thời kỳ lịch sử huy hoàng, đưa dân tộc Việt Nam sống trong hòa bình, ấm no, hạnh phúc. Thanh niên Việt Nam hiện nay, có trình độ học vấn cao, luôn sẵn sàng giữ vị trí tiên phong trong việc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc ngày càng tươi đẹp hơn, phát triển hơn không chỉ về mặt kinh tế mà còn về mặt xã hội, giữ vững ổn định chính trị. Thanh niên là một nhóm nhân khẩu xã hội đặc thù, ở một độ tuổi nhất định, có mặt trong tất cả các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, các lĩnh vực đời sống xã hội, có những đặc điểm chung về tâm lý, sinh lý, nhận 6 thức xã hội, có vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội ở mỗi quốc gia trong hiện tại và tương lai. Chính vì thế, có thể nói thanh niên Việt Nam là những người còn trẻ, đang ở độ tuổi trưởng thành và luôn giữ vị trí tiên phong trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.
Quan niệm về việc làm cho thanh niên: Quan niệm về việc làm không cố định mà nó được xét trên nền tảng của một chế độ chính trị, gắn với trình độ phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của mỗi quốc gia, mỗi thời đại. Khi trình độ phát triển mọi mặt, đặc biệt là định hướng chính trị của một quốc gia thay đổi, quan niệm về việc làm cũng biến đổi. Trong lịch sử cho thấy việc thay đổi những quan điểm về tương lai trực tiếp ảnh hưởng tới số lượng việc làm chứ không chỉ định hướng việc làm. Có quan niệm cho rằng, tất cả các hoạt động, hành vi mang lại thu nhập để đảm bảo cuộc sống cho mọi người đều được gọi là việc làm.
Quan điểm này đã không tính đến tính pháp lý của việc làm, đã đồng nhất việc làm hợp pháp và bất hợp pháp. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay không thể chấp nhận được quan niệm này, bởi khi các quan hệ thị trường ngày càng phát sinh cả những mặt tích cực và tiêu cực, nhiều nguồn thu nhập không chính đáng đang làm gia tăng các tệ nạn xã hội, kìm hãm sự tăng trưởng, phát triển của nền kinh tế đất nước. Việc làm có thể được định nghĩa như một tình trạng trong đó có sự trả công bằng tiền bạc hoặc hiện vật. Do đó, có một sự tham gia tích cực có tính cá nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất.
Việc làm là vấn đề được nghiên cứu và đề cập dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Cùng với sự phát triển của xã hội, quan niệm về việc làm cũng được nhìn nhận một cách khoa học, đầy đủ và đúng đắn hơn. Tại Nghị định số 03/2014 đã quy định về người có việc làm như sau: 7 “Người có việc làm là những người làm một việc gì đó, có được trả tiền công, lợi nhuận hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình, không nhận được tiền công hay hiện vật” [4, tr. Trong bộ Luật Lao động sửa đổi bổ sung năm 2012.
Tại Điều 9, Chương II chỉ rõ về việc làm: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”. Như vậy, việc làm được hiểu đầy đủ như sau: “Việc làm là hoạt động lao động của con người nhằm mục đích tạo ra thu nhập đối với cá nhân, gia đình hoặc cho toàn xã hội, các hoạt động này không bị pháp luật cấm”. Nội dung của việc làm rất mở rộng và cho thấy khả năng to lớn để giải phóng tiềm năng lao động, giải quyết việc làm cho nhiều người. Thanh niên thường tự do hành nghề, tự do liên doanh, liên kết sản xuất kinh doanh; tự do thuê mướn lao động theo quy định của pháp luật nếu có nhu cầu.
Đồng thời qua đây cho thấy, việc làm là một phạm trù lịch sử, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trong các giai đoạn phát triển khác nhau. Việc mở rộng hay thu hẹp việc làm, phát huy hay kìm hãm năng lực tạo việc làm phụ thuộc vào yếu tố kinh tế - chính trị - xã hội của quốc gia, địa phương hay doanh nghiệp. Qua sự phân tích trên cho thấy thanh niên là lực lượng lao động đông đảo, có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội. Lực lượng lao động thanh niên từ 15 tuổi trở lên của cả nước khá lớn.
Chính vì thế, tạo việc làm cho thanh niên để đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vấn đề đặt ra là phải định hướng phát triển nghề nghiệp mới trong thanh niên, phù hợp với những yêu cầu mới của sự phát triển. Kết hợp giữa nhu cầu thực tế của sự phát triển thị trường lao động mới với xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của thanh niên. 8 Thực tế cho thấy, giữa những đòi hỏi về việc làm với định hướng nghề nghiệp của thanh niên, giữa mục tiêu đào tạo nghề và sử dụng lao động có nhiều mâu thuẫn.
Hiện tượng “thừa thầy, thiếu thợ” tồn tại nhiều năm qua vẫn chưa được giải quyết một cách thấu đáo. Việc làm cho thanh niên trong giai đoạn hiện nay là một công việc cần được giải quyết cấp bách cho Việt Nam nói chung và tỉnh Phú Yên nói riêng. Quan niệm quản lý nhà nước về việc làm cho thanh niên Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước, là công cụ của Nhà nước quản lý xã hội mà ở đây cụ thể là việc làm cho thanh niên. Nó là một dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực của các cơ quan Nhà nước, được sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và các hành vi hoạt động của công dân để đảm bảo trật tự xã hội và sự phát triển của xã hội theo đúng ý đồ của Nhà nước.
Khoản 1, Điều 8, Hiến pháp 2013 ghi rõ: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ”. Từ đó cho thấy, quản lý nhà nước về việc làm cho thanh niên bên cạnh việc sử dụng phương pháp mệnh lệnh hành chính (thứ yếu), Nhà nước còn sử dụng phương pháp giáo dục, thuyết phục, tư vấn và vận động (chủ yếu) cho thanh niên về vấn đề việc làm. Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng của mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển như Việt Nam. Thiếu việc làm, không có việc làm hoặc việc làm với năng suất và thu nhập thấp sẽ không thể giúp thanh niên bảo đảm cuộc sống và phát triển bền vững.
Vấn đề việc làm liên quan đến yếu tố đất đai, tư liệu lao động, công cụ lao động, kỹ năng nghề và vốn sản xuất. Các yếu tố trên kết hợp thành một chỉnh thể tác động mạnh đến đời sống của thanh niên nói chung. Chính vì thế, giải quyết 9 việc làm cho thanh niên là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động này. Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy của Ban Chấp hành Trung ương khóa X "Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa" đã chỉ rõ nhiệm vụ: "Nâng cao chất lượng lao động trẻ, giải quyết việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho thanh niên" [12, tr.
Quản lý nhà nước về công tác thanh niên nói chung và việc làm cho thanh niên nói riêng được thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng bằng cơ chế, chính sách và luật pháp nhằm chăm lo giáo dục, đào tạo thanh niên thành công dân tốt và nguồn nhân lực chất lượng cao. Trên cơ sở đường lối, chủ trương của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các cấp chính quyền ban hành các chiến lược, chương trình, dự án, kế hoạch và luật pháp để phát triển thanh niên. Quản lý nhà nước về việc làm cho thanh niên có ý nghĩa quan trọng, nó không chỉ xuất phát từ đòi hỏi của vấn đề việc làm cho thanh niên mà còn là yêu cầu của sự phát triển đất nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chính sách và luật pháp về việc làm cho thanh niên không có những quy định tách biệt, cụ thể mà nói được nhắc đến chung với những chính sách quy định về công tác thanh niên.
Điều 4 Nghị định số 120/2007/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2007 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh niên quy định: “Công tác thanh niên là những hoạt động của Đảng, Nhà nước và xã hội nhằm giáo dục, bồi dưỡng, tạo điều kiện thuận lợi cho thanh niên phấn đấu và trưởng thành, đồng thời phát huy vai trò xung kích, sức sáng tạo và tiềm năng to lớn của thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc”. Như vậy, có thề nói rằng, quản lý nhà nước về việc làm cho thanh niên là đề ra, hoạch định những đường lối, chính sách, pháp luật để mang lại việc 10 giải quyết việc làm cho thanh niên một cách hiệu quả nhất. Nội dung quản lý nhà nước về việc làm cho thanh niên 1.