MỞ ĐẦU Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Đầu tư công được xem là hoạt động không thể thiếu trong tiễn trình phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, đặc biệt, hoạt động này lại càng trở nên quan trọng hơn đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Trong thời gian qua, tại Việt Nam, đầu tư công đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và cung ứng các dịch vụ công; tạo môi trường thúc đây phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh. Hơn nữa, từ năm 2006, hầu hết dự án đầu tư công đã phân cấp về địa phương quản lý, nên hiệu quả đầu tư công mang lại phụ thuộc rất lớn vào năng lực và quyết định đầu tư của địa phương.
Tuy nhiên, với nguồn lực Nhà nước có hạn, hiệu quả đầu tư công chưa cao, nên rất can có những giải pháp dé nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với đầu tư công cấp địa phương trong đó có tỉnh Thái Bình, đề từ đó giúp tỉnh phát triển kinh tế-xã hội. Thái Bình là một tỉnh nhỏ của vùng Đồng bằng Sông Hồng, xuất phát điểm là tỉnh thuần nông với quy mô nên kinh tế còn nhỏ, hiệu qua, sức cạnh tranh còn thấp, tăng trưởng chủ yếu dựa vào các yếu tố vốn theo chiều rộng, hiệu quả đầu tư chưa cao bởi việc quản lý, khai thác sử dụng nguồn lực hiện còn hạn chế, đầu tư công cho cơ sở hạ tầng chưa nhiều, bất cập dẫn đến sự phát triển kinh tế của tỉnh còn bị bó hẹp. Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động đầu tư công, sự hạn hẹp của nguồn vốn ngân sách nhà nước, cũng như nhìn nhận thực tiễn khách quan tại tỉnh Thái Bình, tác gia lựa chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về dau tư công tại tỉnh Thái Binh” là đề tài nghiên cứu. CHUONG 1: CO SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LÝ NHÀ NƯỚC DOI VỚI ĐẦU TƯ CÔNG CÁP TỈNH 1.1 Khái niệm quản lý nhà nước đối với đầu tư công Thuật ngữ “quản lý” có nhiều cách diễn đạt khác nhau.
Với cách hiểu thông thường thì quản lý có nghĩa là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và có định hướng của chủ thé quản lý vào những đối tượng nhất định dé điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ôn định và phát triển của đối tượng đó theo những mục tiêu đã định. Quản lý cũng có thé được hiểu là sự tác động có ý thức của chủ thé quan lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân nhằm hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan. Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật làm công cụ đề điều chỉnh hành vi của con người trên các lĩnh vực cơ bản của đời sông xã hội, do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện nhằm thỏa mãn các nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ôn định và phát triển của xã hội. Hiện nay, trong khoa học pháp lý, thuật ngữ QLNN được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
QLNN theo nghĩa rộng là toàn bộ mọi hoạt động của nhà nước nói chung, mọi hoạt động mang tính chất nhà nước, nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước. Chủ thể của QLNN theo nghĩa rộng là tất cả các cơ quan nhà nước của bộ máy nhà nước, tức là cả ba hệ thống cơ quan: lập pháp, hành pháp và tư pháp. QLNN theo nghĩa hẹp là hoạt động quan lý do một loại cơ quan đặc biệt thực hiện, đó là cơ quan hành chính nhà nước. Đây là hoạt động chấp hành hiến pháp, luật và điều hành trên cơ sở hiến pháp và luật đó, vì thế còn gọi là hoạt động chấp hành và điều hành.
Do đó, QLNN theo nghĩa rộng bao hàm QLNN theo nghĩa hẹp. Hiện nay, trong khoa học Luật Hành chính và khoa học QLNN, khi đề cập đến khái niệm QLNN thì nội ham của nó thường được hiểu theo nghĩa hẹp như đã trình bày ở trên. Như vậy, có thé hiểu QLNN là hoạt động mang tinh chất chấp hành và điều hành của các cơ quan hành chính chính nước trên cơ sở và đề thi hành hiến pháp, luật, văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên nhăm đáp ứng các nhu cầu hợp pháp của công dan, duy trì sự ôn định va phat triển của xã hội. Trên cơ sở cách hiểu đối với khái niệm đầu tư công, hoạt động đầu tư công và khái niệm QLNN đã nêu ở trên, có thé hiểu QLNN về dau tư công là hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước và người có thâm quyên trong cơ quan hành chính nhà nước nhằm chấp hành các quy định của Hiến pháp, luật, VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên trong lĩnh vực đầu tư công va điều hành hoạt động đầu tư của Nhà nước vao các chương trình, dự án xây dựng kết cầu hạ tầng kinh tế - xã hội, các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, qua đó góp phần sử dụng hiệu quả vốn đầu tư công, đảm bảo công bằng xã hội, thúc đây sự phát triển bền vững của nền kinh tế, giữ vững an ninh, bảo đảm quốc phòng.2 Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với đầu tư công QLNN đối với đầu tư công là rất cần thiết nhằm đảm bảo các hoạt chỉ ngân sách địa phương (NSĐP) có hiệu quả, góp phan thúc đây phát triển bền vững kinh tế-xã hội tại địa phương.
Cụ thé như sau: Thứ nhất, đảm bảo kỷ luật tài khóa. Đảm bao kỷ luật tài khóa nghĩa là đảm bảo NSDP bên vững, cân đối thu- chi NSDP, mức bội chi và vay nợ phải kiểm soát được. QLNN nhằm định hướng, hướng dẫn hoạt động đầu tư công theo quy định của pháp luật, bao dam sự tuân thủ dự toán thu-chi đã được cơ quan có thâm quyền quyết định. Các chỉ tiêu trong dự toán đã được cấp có thâm quyền quyết định là các chỉ tiêu có tính pháp lệnh.
Do đó, các cấp, các ngành và các đơn vị có liên quan buộc phải thực hiện nghiêm chỉnh. Dự toán chính là kế hoạch thu-chi cho một thời gian nhất định (hàng năm và trung hạn 03 năm hoặc 5 năm). Chi đầu tư công tuân thủ dự toán sẽ đảm bảo tính kha thi khi thực hiện, giúp việc phân b6 nguồn vốn có hiệu quả. Thứ hai, đạt mục tiêu, hiệu qua phân bồ.
Đề đạt được hiệu quả phân bô cần có danh mục các chương trình, dự án đầu tư công được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên, trên cơ sở các danh mục đó chính quyền địa phương sẽ phân bổ theo các nguyên tắc để đạt được các mục tiêu nhất định. Thứ ba, ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật trong đầu tư công. Nhờ có hoạt động QLNN nên các đối tưượng quản lý sẽ có ý thức hon trong việc chấp hành, vì vậy, hoạt động quản lý sẽ giúp ngăn ngừa được các hành vi vi phạm pháp luật trong đầu tư công. Không có hoạt động QLNN có thé dẫn đến việc dau tư dàn trải, không đúng đối tượng, lãng phí, kém hiệu quả,.
Thứ tư, xử lý các vi phạm trong hoạt động đầu tư công. Chỉ có thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát mới phát hiện ra các vi phạm, từ đó có chế tài xử phạt phù hợp. Thứ năm, phát hiện các văn bản pháp quy về đầu tư công có nội dung cho phù hợp so với thực tiễn, những bat hợp lý, từ đó kịp thời sửa đối, bố sung hoặc kiến nghị với co quan có thâm quyền sửa đồi, bổ sung dé góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư công.3 Công cụ quản lý đầu tư công Thứ nhát, hệ thông luật có liên quan đến hoạt động đầu tư công như luật đầu tư công, luật đầu tư, luật công ty, luật xây dựng, luật đất đai, luật bảo vệ môi trường, luật lao động, luật bảo hiểm, luật thuế, luật phá sản và một loạt các văn bản dưới luật kèm theo về quản lý hoạt động đầu tư như các quy chế quản lý tài chính, vật tư, thiết bị, lao động, tiền lương, sử dụng đất đai và tai nguyên thiên nhiên khác,. Fừ đó dé dam bảo rang các hoạt động đầu tư công được diễn ra theo đúng quy định pháp luật, công khai, minh bạch.
Thứ hai, các chính sách và đòn bẩy kinh tế như chính sách, giá cả, tiền lương, xuất khẩu, thuế, tài chính tín dụng, tỷ giá hồi đoái, thưởng phạt kinh tế, chính sách khuyến khích đầu tu, những quy định về chế độ hạch toán kế toán, phân phối thu nhập. Việc xác định các chính sách và đòn bẩy kinh tế giúp cho hoạt động đầu tư mang lại hiệu quả trước những biến động khách quan về tỷ giá. Bên cạnh đó các chính sách thưởng phạt công tâm giúp mang lại hiệu quả cao trong đầu tư, tránh tình trạng lãng phí thất thoát trong đầu tư công, làm thâm hụt ngân sách nhà nước. Thứ ba, các định mức và tiêu chuẩn quan trọng có liên quan đến lợi ích của toàn xã hội.
Các định mức, tiêu chuẩn này giúp phân bồ lợi ích toàn xã hội một cách tối ưu, mang lại nhiều giá trị xã hội cũng như kinh tế cho cộng đồng trong các dự án công vì dân. Thứ tư, quy hoạch tổng thể và chỉ tiết của ngành và địa phương về đầu tư và xây dựng. Việc quy hoạch từ tổng quan đến chỉ tiết, từ các cấp bộ ngành đến các địa phương liên quan giúp cho công tác thực hiện đầu tư được diễn ra trôi chảy, có liên kết giữa các cấp từ đó tăng tính hiệu quả của đâu tư. Thứ năm, các kế hoạch định hướng và kế hoạch trực tiếp về đầu tư.
Điều này giúp mang lại hiệu quả trong dau tư công, từ đó có thé tính toán được chi phí đầu tư phải bỏ ra, Nhà nước cũng có thể tiên lượng được kế hoạch dau tư sao cho đạt kết quả tối ưu, giảm thiểu rủi ro cũng như lãng phí trong đầu tư công. Thứ sáu, danh mục các dự án đầu tư.