CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1. Nghề Xét về khái niệm phổ biến nhất thì: Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội. Nghề hay nghiệp, đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên, Nxb Văn hoá thông tin – 1998) định nghĩa: “Nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công của xã hội”; Nghề là một việc làm có tính ổn định, đem lại thu nhập để duy trì và phát triển cuộc sống cho mỗi người.
Nghề không đơn giản chỉ để kiếm sống mà còn là con đường để chúng ta thể hiện và khẳng định giá trị của bản thân. Nghề bao gồm nhiều chuyên môn. Chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp mà ở đó con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị vật chất (thực phẩm, lương thực, công cụ lao động…) hoặc giá trị tinh thần (sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ…) với tư cách là những phương tiện sinh tồn và phát triển của xã hội. Trên thế giới hiện nay có trên dưới 2000 nghề với hàng chục nghìn chuyên môn.
Ở Liên Xô trước đây, người ta đã thống kê được 15.000 chuyên môn, còn ở nước Mỹ, con số đó lên tới 40. Các nghề trong xã hội luôn ở trạng thái biến động do sự phát triển của khoa học và công nghệ. Nhiều nghề 9 chỉ thấy có ở nước này nhưng lại không thấy ở nước khác, nhiều nghề cũ mất đi hoặc thay đổi về nội dung cũng như về phương pháp sản xuất. Nhiều nghề mới xuất hiện rồi phát triển theo hướng đa dạng hóa.
Theo thống kê gần đây cho thấy trên thế giới mỗi năm có tới 500 nghề bị đào thải và khoảng 600 nghề mới xuất hiện. Việt Nam trong những năm gần đây, do sự chuyển biến của nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường đã tạo ra những biến đổi sâu sắc trong cơ cấu nghề nghiệp của xã hội. Con người phải chủ động chuẩn bị tiềm lực, trau dồi bản lĩnh, nắm vững một nghề, biết nhiều nghề để tự tìm việc làm, tự tạo việc làm… Mỗi năm ở cả 3 hệ trường (dạy nghề, trung học chuyên ngiệp và cao đẳng - đại học) đào tạo khoảng 300 nghề bao gồm hàng nghìn chuyên môn khác nhau. Nghề nghiệp Nghề nghiệp là một dạng lao động đòi hỏi ở con người một quá trình đào tạo chuyên biệt, có những kiến thức, kỹ năng, kĩ xảo chuyên môn nhất định, có phẩm chất, đạo đức phù hợp với yêu cầu của dạng lao động tương ứng.
Nghề nghiệp cũng giống như một cơ thể sống, có sinh thành, phát triển và tiêu vong. Chẳng hạn, do sự phát triển của kỹ thuật điện tử nên đã hình thành công nghệ điện tử, do sự phát triển vũ bão của kỹ thuật máy tính nên đã hình thành cả một nền công nghệ tin học đồ sộ bao gồm việc thiết kế, chế tạo cả phần cứng, phần mềm và các thiết bị bổ trợ v.v… Công nghệ các hợp chất cao phân tử tách ra từ công nghệ hóa dầu, công nghệ sinh học và các ngành dịch vụ, du lịch tiếp nối ra đời… Ở Việt Nam trong những năm gần đây, do sự chuyển biến của nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, nên đã gây ra những biến đổi sâu sắc trong cơ cấu nghề nghiệp của xã hội. Trong cơ chế thị trường, nhất là trong nền kinh tế tri thức tương lai, sức lao động cũng là một 10 thứ hàng hóa. Giá trị của thứ hàng hóa sức lao động này tuỳ thuộc vào trình độ, tay nghề, khả năng về mọi mặt của người lao động.
Xã hội đón nhận thứ hàng hóa này như thế nào là do “hàm lượng chất xám” và “chất lượng sức lao động” quyết định. Khái niệm phân công công tác sẽ mất dần trong quá trình vận hành của cơ chế thị trường. Con người phải chủ động chuẩn bị tiềm lực, trau dồi bản lĩnh, nắm vững một nghề, biết nhiều nghề để rồi tự tìm việc làm, tự tạo việc làm… 1. Đào tạo nghề Theo C.Ăng ghen, tuyển tập xuất bản lần 2, tập 16 thì công tác dạy nghề phải bao gồm các thành phần sau: Một là: giáo dục trí tuệ Hai là: Giáo dục thể lực như trong các trường thể dục thể thao hoặc bằng cách huấn luyện quân sự Ba là: dạy kỹ thuật nhằm giúp học sinh nắm vững được những nguyên lí cơ bản của tất cả các quá trình sản xuất, đồng thời biết sử dụng các công cụ sản xuất đơn giản nhất Ở Việt Nam có tồn tại các khái niệm sau: Theo giáo trình Kinh tế lao động của trường Đại học Kinh tế quốc dân [14, tr.78] thì khái niệm đào tạo nghề được tác giả trình bày là: “Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động, để họ có thể đảm nhận được một số công việc nhất định” Theo tài liệu của Bộ LĐ-TB&XH xuất bản năm 2002 thì khái niệm đào tạo nghề được hiểu: “Đào tạo nghề là hoạt động nhằm trang bị cho người lao động những kiến thức, kĩ năng và thái độ lao động cần thiết để người lao động sau khi hoàn thành khoá học hành được một nghề trong xã hội” 11 Như vậy, có thể thấy rằng: khái niệm này đã không chỉ dừng lại ở trang bị những kiến thức kĩ năng cơ bản mà còn đề cập đến thái độ lao động cơ bản.
Điều này thể hiện tính nhân văn, tinh thần xã hội chủ nghĩa, đề cao người lao động ngay trong quan niệm về lao động chứ không chỉ coi lao động là một nguồn “Vốn nhân lực”, coi công nhân như cái máy sản xuất thuần túy thông thường. Nó cũng thể hiện sự đầy đủ hơn về vấn đề tinh thần và kỉ luật lao động - một yêu cầu vô cùng quan trọng trong hoạt động sản xuất với công nghệ và kĩ thuật tiên tiến hiện nay. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là một trong những nội dung của đào tạo nghề nói chung. Ở đây có thể thấy rằng, ở bất kỳ khu vực nào thì công tác đào tạo nghề cũng giữ một vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế, ổn định và nâng cao đời sống cho người dân.
Xét về khái niệm thì có thể hiểu rằng: Đào tạo nghề cho người lao động là quá trình giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao động để họ nắm vững một nghề, một chuyên môn nó bao gồm đào tạo công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ hoặc phổ cập nghề cho người lao động (chủ yếu là lao động nông nghiệp). Theo Khoản 1 Điều 5 Luật Dạy nghề: “Dạy nghề là hoạt động nhằm trang bị cho người lao động những kiến thức, kĩ năng và thái độ lao động cần thiết để người lao động có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học”. Lao động nông thôn là những người thuộc lực lượng lao động và hoạt động trong hệ thống kinh tế nông thôn. Đây là những người dân không phân biệt giới tính, tổ chức, cá nhân sinh sống và hoạt động ở vùng nông thôn.
Hiện nay, lao động nông thôn có khoảng 33 triệu người chiếm tới 76% dân số trong độ tuổi lao động của cả nước. Như vậy có thể hiểu hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn là hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt những kiến thức, kỹ năng, 12 kỹ xảo của một nghề nào đó cho người lao động ở khu vực nông thôn, từ đó tạo ra năng lực cho người lao động đó có thể thực hiện thành công nghề đã được đào tạo. Ở nước ta, trong giai đoạn 2011-2015, có hơn một triệu 148 nghìn người được hỗ trợ đào tạo nghề nông nghiệp để thực hiện các dự án trong chương trình xây dựng nông thôn mới, làm dịch vụ phục vụ sản xuất các loại cây trồng, vật nuôi để nâng cao thu nhập, bảo đảm an sinh xã hội. Con số này còn quá khiêm tốn khi mà hiện nay cả nước có khoảng hơn 25 triệu lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, chiếm 55,7% tổng lao động của cả nước, và mỗi năm có thêm khoảng 1 triệu người đến tuổi lao động.
Nếu không quan tâm và chú trọng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn sẽ dễ dẫn đến tình trạng hụt hẫng nguồn lao động lành nghề, thạo nghề được đào tạo cơ bản để phục vụ sản xuất đúng như đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “số lượng đào tạo nghề nông nghiệp chưa đạt mục tiêu đề ra; phương pháp đào tạo chủ yếu là tập trung ở trên lớp, do đó nhiều nông dân không có điều kiện để tham gia với thời gian ba tháng; một số nội dung đào tạo theo yêu cầu của sản xuất nông nghiệp hiện nay như: sản xuất công nghệ cao, vệ sinh an toàn thực phẩm, sản xuất thích ứng với biến đổi khí hậu không có trong chương trình đào tạo; nguồn kinh phí dựa chủ yếu vào ngân sách Trung ương hỗ trợ, mặt khác kinh phí hằng năm bố trí hạn chế cho nên các mục tiêu về số lượng đạt thấp (75%); việc phân công và cơ chế phối hợp chưa phù hợp, dẫn đến vai trò của ngành nông nghiệp đối với đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn chưa được phát huy; các bộ, ngành, tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội chưa có sự phối hợp gắn kết trong tuyên truyền, định hướng thị trường, việc kiểm tra, giám sát thực hiện chương trình cho nên ảnh hưởng đến kết quả đào tạo”. Quản lý và quản lý nhà nước Quản lý: theo nghĩa chung nhất, là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Quản lý là một hoạt động có tính chất phố biến, mọi nơi, mọi lúc, trong mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và liên quan đến mọi người. Đó là một hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác làm một công việc để đạt được mục tiêu chung.
Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người.