Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Khái quát chung về cưỡng chế Thi hành án dân sự 1. Khái niệm cưỡng chế Thi hành án dân sự Để bảo đảm thực thi pháp luật mà mình ban hành ra, bất kỳ nhà nước nào cũng sử dụng sức mạnh cưỡng chế. “Cưỡng chế” là khái niệm thuộc phạm trù Nhà nước và Pháp luật, là hiện tượng gắn liền với nhà nước.
Về thuật ngữ, hiểu theo nghĩa rộng, trong cuốn Đại từ điển Tiếng Việt của Trung tâm ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam do Nxb Văn hoá - Thông tin ấn hành 1998 nêu rõ: “cưỡng chế là bắt phải tuân theo bằng sức mạnh quyền lực” [77]. Còn theo cuốn Từ điển Bách khoa Việt Nam tập l xuất bản năm l995, thì khái niệm cưỡng chế là “dùng quyền lực nhà nước để bắt buộc người khác thực hiện những việc làm trái với ý muốn của họ. Cưỡng chế là một trong những phương pháp chủ yếu của hoạt động quản lý nhà nước” [78]; Theo cuốn Từ điển Luật học do Nxb Từ điển Bách khoa Hà Nội xuất bản năm 1999 thì khái niệm cưỡng chế là “những biện pháp bắt buộc cá nhân hay tổ chức phải thực hiện và phục tùng một mệnh lệnh nhất định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền do nhà nước quy định” [79]. Như vậy, cưỡng chế là một phương thức sử dụng và bảo đảm cho quyền lực nhà nước.
Tuỳ từng chế độ chính trị và điều kiện phát triển của kinh tế - xã hội cụ thể, mà ở từng nhà nước khác nhau, phương pháp cưỡng chế được sử dụng ở các phạm vi, mức độ và cách thức khác nhau. Ngoài ra, các hình thức và các biện pháp cũng được sử dụng tuỳ từng quan hệ xã hội mà pháp luật điều chỉnh. Nhưng nhìn chung bất cứ lĩnh vực nào mà pháp luật điều chỉnh cũng đều cần sử dụng các biện pháp cưỡng chế bảo đảm thi hành. Trong hoạt động tư pháp, để bảo đảm tính hiệu lực của các bản án, quyết định nhà nước phải định ra các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc bảo đảm cho việc thi hành.
Thực ra khi Toà án ra bản án, quyết định thì bản thân sự phán quyết đó đã thể hiện quyền lực đặc biệt của nhà nước, thể hiện sự cưỡng chế của nhà nước. Chính vì vậy ở khía cạnh nào đó, nói đến thi hành án cũng có nghĩa là nói đến cưỡng chế. 8 Theo quyết định của Toà án, người bị kết án phải chịu một hình phạt nhất định, hoặc một cá nhân, cơ quan, tổ chức nào đó phải gánh chịu một nghĩa vụ tài sản hay thực hiện một công việc vì lợi ích của người khác. Các chế tài này hiển nhiên là hoàn toàn trái với ý muốn của những người đó.
Khó có thể hy vọng vào sự tự “trừng phạt” hoặc sự tự nguyện tuyệt đối của người phải thi hành án. Việc pháp luật quy định các biện pháp nhằm bảo đảm việc thực thi các bản án, quyết định của Toà án là tất yếu; Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật có được thi hành nghiêm chỉnh, dứt điểm hay không; kỷ cương pháp luật có được tôn trọng, lợi ích hợp pháp của nhà nước, của tập thể, của các tổ chức xã hội và mọi công dân có được bảo đảm hay không phụ thuộc nhiều vào kết quả thi hành án; trong thi hành án dân sự các bên đương sự có quyền tự định đoạt, thoả thuận với nhau nhằm thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự theo bản án, quyết định của Tòa án. Tự nguyện thi hành án đã trở thành một nguyên tắc, biện pháp quan trọng được Đảng và Nhà nước ta tập trung chỉ đạo tăng cường thường xuyên trong mọi giai đoạn xây dựng và phát triển đất nước. Làm tốt công tác động viên tự nguyện thi hành án một mặt giúp các cơ quan thi hành án dân sự đạt được số vụ việc thi hành xong mà không phải tốn kém kinh phí của ngân sách Nhà nước, không cần phải huy động lực lượng và các nguồn lực khác để tổ chức cưỡng chế; tự nguyện thi hành án tốt giúp giải tỏa mâu thuẫn, cũng cố tình làng, nghĩa xóm, thắt chặt tình đoàn kết trong nội bộ nhân dân.
Giải thích, thuyết phục để các bên tự nguyện thi hành án dân sự là nhiệm vụ của chấp hành viên, của cơ quan thi hành án dân sự trong quá trình tổ chức thi hành án; Còn thuyết phục trong thi hành án dân sự bắt nguồn từ việc các bên đương sự có quyền tự nguyện thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự đã được bản án, quyết định ghi nhận, thể hiện ý chí của các bên đương sự nhằm thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Tuy vậy, khi người phải thi hành án đã được giải thích, thuyết phục, mặc dù có điều kiện thi hành án mà tìm mọi cách trì hoãn, trốn tránh để không tự nguyện thi hành, thì buộc cơ quan thi hành án dân sự phải tổ chức cưỡng chế thi hành án. Cưỡng chế thi hành án thể hiện quyền năng của cơ quan thi hành án, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, nhằm đảm bảo bản án, quyết định được thi hành nghiêm chỉnh, đúng pháp luật. 9 Cưỡng chế nhà nước là dùng quyền lực nhà nước bắt buộc cá nhân, tổ chức thực hiện hoặc không thực hiên một công việc nhất định trái với ý muốn của họ.
Cưỡng chế gắn liền với hoạt động quản lý nhà nước và là phương pháp thường xuyên được áp dụng trong quản lý nhà nước. Cưỡng chế nhà nước có nhiều lĩnh vực như: Cưỡng chế hành chính, hình sự, dân sự, thi hành án dân sự. Tuy Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) không định nghĩa cưỡng chế trong thi hành án dân sự nhưng tại khoản 2 Điều 9 lại quy định: “người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật này”[68]. Theo đó, người phải thi hành án sẽ phải tự nguyện thi hành án khi có điều kiện, nếu không thực hiện thì người có thẩm quyền thi hành án tiến hành cưỡng chế.
Theo pháp luật hiện hành thì người có thẩm quyền trực tiếp thi hành án và áp dụng biện pháp cưỡng chế bao gồm chấp hành viên và thừa phát lại (sau đây gọi chung là người có thẩm quyền thi hành án). Nói tóm lại cưỡng chế thi hành án dân sự là việc chủ thể có thẩm quyền dùng quyền lực nhà nước thực hiện biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự đối với tổ chức, cá nhân nhằm bảo đảm thi hành trên thực tế quyền, nghĩa vụ đã được xác định trong bản án, quyết định được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự. Cưỡng chế thi hành án dân sự có thể được xem xét dưới góc độ là một quan hệ pháp luật, một chế định pháp luật hoặc một hoạt động áp dụng pháp luật trong thực tiễn. Điều kiện cưỡng chế Thi hành án dân sự Để áp dụng được biện pháp cưỡng chế thi hành án, cần phải hội đủ các điều kiện sau đây: Người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản hoặc phải thực hiện hành vi theo bản án, quyết định của Tòa án, quyết định của Trọng tài, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh; Người phải thi hành án có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành án.
Biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự chỉ được áp dụng khi người phải thi hành án có nghĩa vụ và hành vi phải thực hiện theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, nhất là có thái độ và hành vi không tự nguyện thi hành án khi người phải thi 10 hành án có điều kiện thi hành án. Theo khoản 6, Điều 3 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014, có điều kiện thi hành án là trường hợp người phải thi hành án có tài sản, thu nhập để thi hành nghĩa vụ về tài sản; tự mình hoặc thông qua người khác thực hiện nghĩa vụ thi hành án [68]. Nguyên tắc cưỡng chế Thi hành án dân sự Cưỡng chế thi hành án dân sự là một biện pháp nghiêm khắc nhất, do đó, chấp hành viên trong quá trình tổ chức thi hành án không được áp dụng một cách tùy tiện mà phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định. Các nguyên tắc đó là: 1.
Chỉ người có thẩm quyền thi hành án mới có quyền áp dụng biện pháp thi hành án dân sự Theo PL hiện hành thì chỉ có cơ quan thi hành án dân sự và Văn phòng thừa phát lại mới được nhà nước trao cho quyền tổ chức thi hành các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan có thẩm quyền và chỉ người có thẩm quyền thi hành án mới có quyền quyết định biện pháp cưỡng chế. Ngoài ra các chủ thể khác, bằng sức mạnh của mình, bắt buộc người khác phải thi hành án đều trái pháp luật. Chỉ áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự khi hết thời gian tự nguyện thi hành trừ trường hợp áp dụng cưỡng chế ngay Hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 45 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế. Tuy nhiên, để đảm bảo công tác thi hành án thật sự hiệu quả, với mục đích ngăn chặn những hành vi tẩu tán tàn sản, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ thi hành án của đương sự trong thời gian tự nguyện thi hành án thì chủ thể có thẩm quyền vẫn được áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án được quy định tại chương IV Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) [68].
Không được cưỡng chế thi hành án trong thời gian mà pháp luật quy định không được cưỡng chế thi hành án Xuất phát từ mục đích nhân đạo đối với người phải thi hành án, pháp luật quy định không tổ chức cưỡng chế trong thời gian từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày 11 hôm sau, các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật và các trường hợp đặc biệt như 15 ngày trước và sau tết nguyên đán, các ngày truyền thống của các đối tượng chính sách [22].