Chương 1 12 luan an NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀHOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Khái niệm và đặc điểm của thi hành án dân sự 1. Khái niệm thi hành án dân sự Khi các cá nhân, tổ chức phát sinh tranh chấp và yêu cầu Tòa án giải quyết, phán quyết của Tòa án chỉ là kết quả về mặt pháp lý. Để bảo vệ quyền lợi của mình trên thực tế, bên thắng kiện phải yêu cầu cơ quan THADS tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án.
Việc tổ chức thi hành phần dân sự của bản án, quyết định của Tòa án được gọi là THADS. THADS là một giai đoạn độc lập của quá trình tố tụng dân sự, giai đoạn kết thúc quá trình bảo vệ quyền lợi của đương sự và người có quyền và lợi ích liên quan theo bản án, quyết định của Tòa án được tổ chức thi hành trên thực tế. Đó là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền dựa trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và theo các trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm đưa bản án, quyết định của Toà án ra thi hành trên thực tế, bảo đảm tính hiệu lực của các bản án, quyết định dân sự của Tòa án bảo vệ kịp thời các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, người có quyền và lợi ích liên quan. Trong quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án, hoạt động THADS còn góp phần phát hiện sai sót của các quá trình tố tụng dân sự của Tòa án trong việc áp dụng pháp luật hoặc làm ảnh hưởng đến quyền lợi cho công dân, đương sự và không phù hợp với hiện trạng thực tế như lĩnh vực về đất đai, nhà ở, công trình kiến thúc xây dựng…, từ đó kiến nghị đến Tòa án có thẩm quyền kịp thời xét xử lại nhằm bảo vệ quyền lợi cho các bên đương sự, người có quyền và lợi ích liên quan.
Tuy nhiên, việc tổ chức THADS không những chỉ đối với các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà còn phải tổ chức thi hành đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực nhưng phải thi hành ngay trong những trường hợp pháp luật quy địnhcụ thể tại Điều 2, Khoản 2 của Luật Thi hành án dân sự “Những bản án, quyếtđịnh sau đây của Toà án cấp sơ thẩm được thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị: a) Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả lương, 13 luan an trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tổn thất về tinh thần, nhận người lao động trở lại làm việc;b) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời” [39]. Hiện naycòn cónhiều quan điểm, ý kiến khác nhau về tính chất của hoạt động THADS. Quan điểm thứ nhất cho rằng: hoạt động THADS là một hoạt độngtưpháp vì nó là giai đoạn tiếp theo của giai đoạn xét xử không thể thiếu trong quá trình bảo vệ quyền lợi của đương sự, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, luôn gắn liền với các giai đoạn tố tụng và được ghi nhận trong Bộ luật Tố tụng Dân sự. Do đó THADS chính là một hoạt động tư pháp, là giai đoạn cuối của tố tụng dân sự.
Quan điểm thứ hai cho rằng: hoạt động THADS không phải là hoạtđộng tư pháp, bởi vì không những thi hành các vụ án dân sự, mà còn có trình tự, thủ tục thi hành phần dân sự trong các bản án hình sự, kinh doanh thương mại, hành chính, lao động…, trình tự tổ chức thi hành theo một trình tự thủ tục hành chính. Vì vậy, THADS là một loại hoạt động hành chính bởi bản chất và mục đích của THADSkhông giống với hoạt động tố tụng nên không được xem nó là hoạt động tố tụng dân sự. Quan điểm này cho rằng bản chất, mục đích của hoạt động tố tụng dân sự có nhiệm vụ xác định sự thật khách quan trong các vụ án dân sự, vụ việc dân sự và có những phán quyết cuối cùng đúng theo quy định của pháp luật. Khi đưa ra những phán quyết đó, cơ quan tiến hành tố tụng và những cá nhân tiến hành tố tụng phảithực hiện theo một quy trình tố tụng chặt chẽ và công khai, minh bạch trong khi hoạt động THADS thì thực hiện theo những quy định mà điều luật đã được định sẵn.
Tức là cơ quan THADS chỉ phải đưa ra một quyết định mang tính hành chính được áp dụng bằng một hoặc nhiều văn bản cá biệt (Nghị định, Thông tư.) để điều chỉnh hoạt động của cá nhân, đối tượng phải có nghĩa vụ THA và chủ thể được THA. Ngoài ra, THADS còn có thể coi là hoạt động hành chính vì bản chất, hoạt động này là 14 luan an hoạt động chấp hành và điều hành, theo đó mà nó mang tính quản lý hành chính nhà nước rõ nét. Quan điểm thứ ba cho rằng, THADS là hoạt động “lưỡng tính”, vừamang tính chất hành chính, vừa mang tính chất tư pháp chứ không thể chỉ có riêng tính chất hành chính, hoặc riêng tính chất tư pháp. THADS là một hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, do cơ quan THADS và CHV thực hiện nhằm đưa quyết định của các bản án, quyết định về dân sự của Toà án đi vào thực tiễn cuộc sống.
Hoạt động THADS trên thực tế luôn gắn liền với quy trình tố tụng nói chung và quy trình tố tụng dân sự nói riêng, gắn với quyền lực hành pháp. Đồng thời, cũng qua hoạt động THADS, các cá nhân, tổ chức có nghĩa vụ phải THADS phải thực hiện đầy đủ các trách nhiệm của mình. Trong trường hợp không thi hành quyết định THA thì cá nhân, tổ chức đó phải chịu sự cưỡng chế của Nhà nước thông qua các cơ quan có chức năng, nhiệm vụ liên quan. Tuy nhiên, việc thi hành án không chỉ do các chủ thể có thẩm quyền thực hiện mà có khi nó được thực hiện một cách tự giác bởi người có nghĩa vụ THA.
Khi nào các bản án, phán quyết không được thi hành một cách tự nguyện bởi người có nghĩa vụ thì hoạt động cưỡng chế THA của chủ thể có thẩm quyền mới cần phải thực hiện. Cả ba quan điểm trên đều có điểm hợp lý nhưng theo tác giả, quan điểm thứ ba là phù hợp hơn cả. Bởi vì, xuất phát từ thực tiễn công tác THADSở nước ta cùng với những quy định của pháp luật về THADS hiện hành cho thấy: THADS là hoạt động đặc thù, là giai đoạn thực thi cuối cùng của cả quytrình tố tụng trước đó (điều tra, truy tố, xét xử) nó mang cả tính chất của hoạt động hành chính, cả tính chất của hoạt động tư pháp. Trên cơ sở những lập luận, phân tích nêu trên, có thể hiểu: THADS là hoạtđộng vừa mang tính hành chính –vừa mang tính tư pháp và do cơ quan, tổ chức, cá nhân được pháp luật giao cho thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục luật định nhằm đưa những bản án, quyết định của Tòa án hoặc các quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật được thực 15 luan an hiện trên thực tế, là giai đoạn cuối cùng của quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong các quan hệ dân sự.
Đặc điểm của thi hành án dân sự Thứ nhất, THADS là hoạt động liên quan đến quyền lực nhà nước. Nó bao gồm nhiều hoạt động của nhiều chủ thể khác nhau nên đòi hỏi sự tham gia của chủ thể không chỉ các cơ quan hành chính nhà nước mà cả các cơ quan tư pháp và bổ trợ tư pháp cũng như của chính người có nghĩa vụ THA. Như đã phân tích, việc thực hiện quyền lực nhà nước trong THADS là sự ''lưỡng tính” giữa quyền hành pháp và quyền tư pháp. Tuy nhiên, do có sự tham gia của chủ thể không mang quyền lực nhà nước, có hoạt động thực hiện các phán quyết của các chủ thể được nhà nước trao quyền hoặc công nhận (phán quyết của trọng tài), cho phép tồn tại sự thỏa thuận giữa các bên đương sự nên THADS không hoàn toàn mang tính quyền lực nhà nước.
Vì vậy THADS không hoàn toàn dùng các biện pháp cứng nhắc của quyền lực nhà nước. Thứ hai, THADS là hoạt động có mục đích là để thực hiện lợi ích của người được THA. Ngoài việc bảo vệ quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức, nhà nước là đối tượng trực tiếp được THA thì hoạt động THADS còn góp phần giữ vững kỷ cương, phép nước, giữ vững giá trị của pháp luật trong đời sống xã hội. Đồng thời THADS còn phải đảm bảo lợi ích hợp pháp của những người có liên quan đến tài sản là đối tượng trong các quyết định THADS.
Thứ ba, THADS chủ yếu là hoạt động thi hành bản án, quyết định của Toà án về tài sản nên tính chất dân sự mà tài sản mang lại có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định tính chất của quan hệ pháp luật là quan hệ pháp luật dân sự. Tính tự nguyện, tự định đoạt từ phía người được THADS được tôn trọng. Do đó, trong quá trình THADS, cơ quan THADS luôn luôn bảo đảm quyền tự nguyện, tự định đoạt và tự chịu trách nhiệm với sự lựa chọn thực hiện hay không thực hiện của đương sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đếnTHA mà cơ quan này không được tự tiện can thiệp. 16 luan an Thứ tư, THADS là hoạt động có ý nghĩa trong việc góp phần nâng caochất lượng, hiệu quả của hiệu lực xét xử.
Chủ thể tiến hành tố tụng đều là những người có uy tín, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao nhưng xuất phát từ đặc điểm tính chất vụ án dân sự đa dạng, phức tạp, một số yếu tố như sự tác động của những người có vị trí trong xã hội hay sự hấp dẫn của vật chất có thể làm thay đổi quan điểm của công chức trực tiếp THA. Trong khi đó qui định của pháp luật về nội dung cũng như qui định về thủ tục tố tụng nhiều khi còn chưa chặt chẽ, thiếu sót dẫn đến có những bản án, quyết định tuyên không rõ ràng, không khả thi ở thực tế.