CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QLNN PHÁP QUYỀN XHCN ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KTTN TẠI ĐỊA PHƯƠNG CẤP TỈNH, THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG 1. Những vấn đề cơ bản về QLNN pháp quyền XHCN trong nền kinh tế thị trường 1. Quan niệm chung về nhà nước, nhà nước pháp quyền và nhà nước pháp quyền XHCN 1. Những vấn đề chung về nhà nước: Nhà nước, hiểu theo nghĩa pháp luật, là một tổ chức xã hội đặc biệt của quyền lực chính trị được giai cấp thống trị thành lập nhằm thực hiện quyền lực chính trị của mình.
Nhà nước vì thế mang bản chất giai cấp. Nhà nước xuất hiện kể từ khi xã hội loài người bị phân chia thành những lực lượng giai cấp đối kháng nhau; nhà nước là bộ máy do lực lượng nắm quyền thống trị (kinh tế, chính trị, xã hội) thành lập nên nhằm mục đích điều khiển, chỉ huy toàn bộ hoạt động của xã hội trong một quốc gia do vậy nhà nước mang vai trò xã hội, trong đó chủ yếu để bảo vệ các quyền lợi của lực lượng thống trị. Nhà nước xuất hiện khi có chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và xuất hiện những giai cấp đối kháng nhau do vậy mà nó cần một tổ chức chính trị đứng ra để điều hòa những mâu thuẫn ấy và để quản lí xã hội. Theo quan điểm của học thuyết Mác - Lênin, nhà nước mang bản chất giai cấp.
Nhà nước chỉ ra đời từ khi xã hội phân chia giai cấp. Giai cấp nào thì nhà nước đó. Do trong xã hội nguyên thủy không có phân chia giai cấp, nên trong xã hội nguyên thủy không có Nhà nước. Cho đến nay, đã có 4 kiểu Nhà nước được hình thành: Nhà nước chủ nô, Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư sản, Nhà nước vô sản (Nhà nước XHCN).
Nhà nước được giai cấp thống trị thành lập để duy trì sự thống trị của giai cấp mình, để làm người đại diện cho giai cấp mình, bảo vệ lợi ích của giai cấp mình. Bản chất nhà nước có hai thuộc tính: tính xã hội và tính giai cấp cùng tồn tại trong một thể thống nhất không thể tách rời và có quan hệ biện chứng với nhau. Tính giai cấp là thuộc tính cơ bản, vốn có của bất kỳ nhà nước nào. Nhà nước ra đời trước hết phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị; tính xã hội của nhà nước thể hiện ở chỗ nhà nước là đại 8 diện chính thức của toàn xã hội, và ở mức độ này hay mức độ khác nhà nước thực hiện bảo vệ lợi ích cơ bản, lâu dài của quốc gia dân tộc và công dân mình.
Quan niệm về nhà nước pháp quyền Trong lịch sử, khái niệm pháp quyền được hình thành và phát triển gắn với lịch sử phát triển của nhà nước. Theo thời gian, nội dung của pháp quyền đã không ngừng được giải thích, bổ sung và hoàn thiện. Từ thời Hy Lạp cổ đại, tư tưởng pháp quyền cũng đã xuất hiện. Đáng chú ý là tư tưởng pháp quyền sơ khai của 2 nhà triết học nổi tiếng Plato và Aristotle.
Plato khẳng định pháp luật phải là ông chủ của chính quyền để ngăn ngừa sự xuất hiện của những kẻ chuyên quyền. Còn Aristotle cho rằng pháp luật cần phải được xem như là sự kiềm chế đối với các pháp quan để hạn chế sự tùy tiện trong quá trình đưa ra các phán quyết. Đến giai đoạn quá độ từ hình thái kinh tế - xã hội phong kiến sang hình thái kinh tế - xã hội TBCN, tư tưởng về pháp quyền được tiếp tục bổ sung và phát triển. Giai đoạn này, tư tưởng pháp quyền được phát triển và hòa quyện vào các học thuyết về phân quyền, chủ nghĩa lập hiến và dân chủ.
Đáng chú ý là tư tưởng pháp quyền của J. Rousseau, đề cao các giá trị dân chủ, tự do và quyền con người: “Con người được sinh ra một cách tự do, nhưng khắp nơi lại bị xiềng xích”. Từ đó, họ tập trung tìm kiếm một cơ chế chế ước quyền lực nhà nước, chống lại sự lạm quyền và xây dựng một mô hình nhà nước hợp lý nhằm hạn chế việc vi phạm các quyền con người. Tiếp đến là Ch.
Montesquieu với thuyết tam quyền phân lập đã được các học giả tư sản phương Tây coi là vấn đề cốt lõi trong việc xây dựng lý thuyết tổ chức quyền lực của nhà nước tư sản. Một nhà nghiên cứu đã khái quát tư tưởng chủ đạo về pháp quyền trong giai đoạn này là: Con người chỉ được tự do khi chính phủ không được tự do. Ở Việt Nam, quan niệm về nhà nước pháp quyền cũng đang còn rất nhiều tranh luận. Có ý kiến cho rằng nhà nước pháp quyền là nhà nước lãnh đạo quổc gia để sao cho mọi người dân đều có trách nhiệm phục tùng pháp luật và tôn trọng các quyền của con người.
Hoặc ý kiến khác lại cho rằng, nhà nước pháp quyền là nhà nước thừa nhận tẩt cả các đạo luật và văn bản dưới luật do cơ quan lập pháp và chính phủ đặt ra, đó là nhà nước được trao quyền làm luật và ban hành pháp luật, nhưng không phải đứng trên pháp luật mà đứng trong pháp luật. Dù có những cách giải thích và cách tiếp cận khác nhau về nhà nước pháp quyền, song có thể nêu lên một số đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền như sau: - Nhà nước pháp quyền đối lập với các thể chế chính trị độc quyền, thần quyền. Quyền lực nhà nước được xác định là quyền lực của nhân dân. 9 - Nhà nước pháp quyền là một phương thức tổ chức quyền lực nhà nước, trong đó đảm bảo thượng tôn pháp luật.
- Quyền lực trong thể chế của nhà nước pháp quyền được phân chia thành các quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp nhằm tạo sự kiềm chế lẫn nhau, tránh lạm quyền. - Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, các quyền con người như: tự do, bình đẳng… được thể chế hóa bằng pháp luật và thông qua pháp luật. Cho nên, với tư cách là cơ quan quản lý xã hội, ban hành luật pháp, quy định nhân dân được làm gì và không được làm gì. Nếu nhà nước quyết định mọi vấn đề mà không nhận được sự đồng thuận từ phía nhân dân thì đó là nhà nước không có dân chủ.
Nếu nhân dân được quyền cùng với nhà nước tham gia bàn bạc và đưa ra quyết định những vấn đề của đất nước và những vấn đề liên quan đến lợi ích của nhân dân thì đó là xã hội có dân chủ. Nói tóm lại, có thể hiểu nhà nước pháp quyền là một chính thể quyền lực để thực hiện nền dân chủ, là nhà nước đề cao vai trò của pháp luật trong hoạt động của nhà nước và đời sống xã hội, được tổ chức, hoạt động trên cơ sở một hệ thống pháp luật tôn trọng quyền con người, công bằng và có sự phân công và kiểm soát quyền lực nhà nước nhằm bảo đảm tự do cá nhân và quyền bình đắng của con người trong xã hội. Tính chất TBCN trong nhà nước pháp quyền tư sản Trong lịch sử, nhà nước chủ nô và nhà nước phong kiến là những kiểu nhà nước chuyên quyền, độc đoán. Nên dân chủ chỉ được dành cho các giai cấp thống trị, một thiểu số trong xã hội.
Cách mạng tư sản lật đổ chế độ phong kiến, xây dựng nên nhà nước tư sản. Tuy có những hình thức khác nhau, song nhà nước tư sản vẫn mang bản chất chung là nền chuyên chính tư sản. Nó là hình thức tổ chức quyền lực để thực hiện nền dân chủ tư sản, tức là nền dân chủ nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản. Mặc dù nó cũng có đem lại một số lợi ích cho những người lao động nhưng rõ ràng trong mối quan hệ giữa mục đích và phương tiện thì lợi ích mà những người lao động có được chỉ là phương tiện.
Tuy nhiên, phải thừa nhận một thực tế là, chỉ từ khi xuất hiện nền dân chủ tư sản, mới có cơ hội và điều kiện để xây dựng và tổ chức nhà nước pháp quyền. Nhà nước pháp quyền không thể xuất hiện trong một xã hội phi dân chủ. Điều này lý giải vì sao tư tưởng về nhà nước pháp quyền xuất hiện khá sớm, từ thời Hy Lạp cổ đại, nhưng phải mãi đến khi chủ nghĩa tư bản ra đời, với sự xuất hiện của nền dân chủ tư sản, nhà nước pháp quyền mới từ nhà nước trong ý tưởng dần trở nên một nhà nước hiện thực. 10 Tuy còn nhiều hạn chế, song nhà nước pháp quyền tư sản cũng chứa đựng những yếu tố tiến bộ hơn so với nhà nước phong kiến và nhà nước chủ nô.
Đáng chú ý là ngày nay, nhà nước pháp quyền tư sản cũng đã có những điều chỉnh theo hướng quan tâm nhiều hơn đến lợi ích của người lao động. Một bộ phận người lao động trở thành cổ đông, đồng sở hữu chủ trong các công ty. Vì vậy, đời sống người lao động được cải thiện, tỷ lệ người nghèo trong xã hội có xu hướng giảm và tầng lớp trung lưu có xu hướng tăng nhanh. Một bộ phận công nhân là những người có tay nghề cao, các chuyên gia kĩ thuật,.được hưởng lương cao đi kèm với những ưu đãi… Có nghĩa là trong thể chế của nhà nước pháp quyền, dù chỉ là nhà nước pháp quyền tư sản, nhưng chủ nghĩa tư bản cũng đang tự điều chỉnh để thích ứng với bối cảnh xã hội mới.
Vẫn là nhà nước của giai cấp tư sản, nhưng nhà nước ấy đang dần tổ chức và quản lí có hiệu quả hơn các mặt của đời sống xã hội, đã buộc phải hướng tới tôn trọng các quyền, tự do của con người, tôn trọng các giá trị dân chủ, công bằng, bình đẳng và tiến bộ xã hội, mặc dù những điều chỉnh ấy là do những tác động khách quan của thời đại, của cách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt là kết quả đạt được của quá trình đấu tranh lâu dài của giai cấp công nhân, còn tính chất giai cấp vẫn không hề thay đổi, vẫn là nhà nước của giai cấp tư sản. Quan niệm về Nhà nước Pháp quyền XHCN Việt Nam Quan điểm của Đảng ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là quá trình đúc kết, kế thừa, vận dụng tư tưởng về Nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại, quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước, pháp luật kiểu mới và thực tiễn xây dựng Nhà nước kiểu mới ở nước ta, nhất là trong những năm đổi mới vừa qua.