Mở đầu Phần 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn Phần 3. Phƣơng pháp nghiên cứu Phần 4. Kết quả nghiên cứu Phần 5.
Kết luận và kiến nghị 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Các khái niệm liên quan 2. Khái niệm quản lý Quản lý đƣợc hình thành và phát triển từ thực tiễn.
Vì vậy, có rất nhiều quan niệm về quản lý: - Theo Mary Parker Follet (đầu thế kỷ 20): "Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc đƣợc thực hiện thông qua ngƣời khác". - Theo Robert Kreitner (1992): "Quản lý là tiến trình làm việc với và thông qua ngƣời khác để đạt các mục tiêu của tổ chức trong một môi trƣờng thay đổi. Trong tâm của tiến trình này là kết quả và hiệu quả của việc của việc sử dụng các nguồn lực giới hạn". - Theo Harol Koontz (1952): "Quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt đƣợc mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, chỉ huy, phối hợp, hƣớng dẫn hoạt động của những ngƣời khác".
- Theo Nguyễn Minh Đạo (1997): "Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hƣớng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con ngƣời nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra". - Nguyễn Hồng Sơn (2013): "Quản lý là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có kết quả và hiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nguồn lực của tổ chức". Từ những quan niệm này cho thấy, quản lý là một hoạt động liên tục và cần thiết khi con ngƣời kết hợp với nhau trong tổ chức. Đó là quá trình tạo nên sức mạnh gắn liền các hoạt động của các cá nhân với nhau trong một tổ chức nhằm đạt đƣợc mục tiêu chung.
Quản lý bao gồm các yếu tố sau: Chủ thể quản lý: Là tác nhân tạo ra các tác động quản lý. Chủ thể có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Chủ thể quản lý tác động lên đối tƣợng quản lý bằng các công cụ, hình thức và phƣơng pháp thích hợp, cần thiết và dựa trên cơ sở những nguyên tắc nhất định; Đối tƣợng quản lý (khách thể quản lý): Tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý; Mục tiêu quản lý: là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý đề ra. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các tác động quản lý cũng nhƣ lựa chọn các hình thức, phƣơng pháp thích hợp.
Tóm lại: Quản lý là một quá trình tác động, gây ảnh hƣởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý một cách hợp quy luật nhằm đạt đƣợc mục tiêu chung (Nguyễn Hồng Sơn, 2013). Quản lý nhà nước Theo Nguyễn Hữu Hải (2010): “Quản lý nhà nƣớc là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực Nhà nƣớc, sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, do các cơ quan trong bộ máy Nhà nƣớc thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội”. Nhƣ vậy, quản lý nhà nƣớc là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nƣớc, đƣợc sửa dụng quyền lực nhà nƣớc để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Quản lý nhà nƣớc đƣợc xem là một hoạt động chức năng của nhà nƣớc trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt quản lý nhà nƣớc đƣợc hiểu theo hai nghĩa.
Theo nghĩa rộng: Quản lý nhà nƣớc là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nƣớc, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tƣ pháp. Theo nghĩa hẹp: Quản lý nhà nƣớc chỉ bao gồm hoạt động hành pháp. Quản lý nhà nƣớc đƣợc đề cập trong đề tài này là khái niệm quản lý nhà nƣớc theo nghĩa rộng; quản lý nhà nƣớc bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tƣợng bị quản lý và vấn đề tƣ pháp đối với đối tƣợng quản lý cần thiết của Nhà nƣớc. Hoạt động quản lý nhà nƣớc chủ yếu và trƣớc hết đƣợc thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nƣớc, song có thể các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu đƣợc nhà nƣớc uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhà nƣớc theo quy định của pháp luật.
Cụm công nghiệp (CCN) Tại Việt Nam, trong quá trình phát triển của đất nƣớc khái niệm CCN đƣợc nói đến từ rất lâu, tuy nhiên khái niệm CCN chính thức đƣợc ra đời từ khi có Quyết định số 105/2009/QĐ-TTg ngày 19/8/2009 của Thủ tƣớng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý CCN. CCN là khu vực tập trung các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, cơ sở dịch vụ phục vụ sản xuất 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; có ranh giới địa lý xác định, không có dân cƣ sinh sống; đƣợc đầu tƣ xây dựng chủ yếu nhằm di dời, sắp xếp, thu hút các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các cá nhân, hộ gia đình ở địa phƣơng vào đầu tƣ sản xuất, kinh doanh, do Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng (gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) quyết định thành lập. Hiện nay có sự định nghĩa không hoàn toàn giống nhau giữa các học giả, các tổ chức nƣớc ngoài và Việt Nam về CCN. Khái niệm CCN “Geographical clusters” hay “Industrial districts” xuất hiện vào cuối thế kỷ 19 bởi Alpred Marshall (năm 1920), xuất phát từ việc nghiên cứu của ông về sự tập trung sản xuất công nghiệp ở miền Bắc nƣớc Anh.
Theo Marshall, các CCN có ba lợi thế cơ bản từ sự tập trung, đó là: sự lan toả của thông tin, sự chuyên môn hoá và phân công lao động giữa các cơ sở với nhau và sự phát triển của thị trƣờng lao động đa dạng có tay nghề cao. Tiếp đó, khái niệm này đã đƣợc phát triển thành hai trƣờng phái tiếp cận công nghiệp khác nhau. Các nhà nghiên cứu theo trƣờng phái Pháp nhƣ Courlet et Pecqueur, Colletis. gọi là các hệ thống sản xuất địa phƣơng.
Các nhà nghiên cứu theo trƣờng phái Anh, Mỹ gọi là CCN “Indusƣial Cluster” hoặc “Industrial disƣicts” với cách tiếp cận của Michael Porter. Theo Michael Porter (1990), CCN là sự tập trung về mặt địa lý của các công ty và tổ chức có liên quan trong một lĩnh vực cụ thể nào đó và bao gồm các ngành gắn kết với nhau. CCN tập trung các nhà cung cấp đầu vào, các khách hàng tiêu thụ sản phẩm, cũng nhƣ các nhà sản xuất các sản phẩm khác có liên quan. Các CCN cũng có thể bao gồm các tổ chức nhƣ trƣờng đại học, viện nghiên cứu, trƣờng đào tạo nghề và các hiệp hội thƣơng mại.
Bộ Kinh tế, Thƣơng mại và công nghiệp (METI) của Nhật Bản, 2001, coi CCN là "sự tập trung công nghiệp với một mạng lƣới phát triển bao gồm các liên kết về công nghiệp giữa các công ty, các trƣờng đại học và các viện nghiên cứu để tiến hành các cải tiến". Sonobe and Otsuka (2006), coi "CCN là sự tập trung về mặt địa lý của các doanh nghiệp (DN) sản xuất các sản phẩm tƣơng tự hoặc có liên quan với nhau trong một khu vực nhỏ”. Khái niệm này coi CCN không đơn thuần chỉ là sự tập trung của các DN ở một khu vực nhất định mà phải là sự tập trung của các DN sản xuất các sản phẩm tƣơng tự nhau hoặc có liên quan gần gũi với nhau. Theo 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kuchiki, CCN là "sự tập trung về mặt địa lý các công ty, các nhà cung cấp đặc thù, các nhà cung cấp dịch vụ và các tổ chức có liên quan chặt chẽ với nhau trong một lĩnh vực nào đó trong phạm vi một nƣớc hoặc một khu vực".
Ở Việt Nam, từ khi có quyết định 132/2000/QĐ - TTg, ngày 24/11/2000 về một số chính sách, khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn đến trƣớc khi có quyết định 105/2009/QĐ-TTg ngày 19/8/2009, CCN đƣợc hiểu và gọi tên rất khác nhau giữa các địa phƣơng trong cả nƣớc, nơi thì gọi là CCN làng nghề, nơi gọi là CCN nông thôn, nơi gọi là điểm công nghiệp, nơi gọi là CCN vừa và nhỏ. Tại Bắc Giang, CCN đƣợc xem là nơi tập trung các đơn vị chuyên sản xuất các sản phẩm công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, đƣợc thành lập theo quyết định của UBND tỉnh. Bắc Ninh còn sử dụng khái niệm “CCN làng nghề” để nói đến các Khu công nghiệp nhỏ thuộc phạm vi quản lý của tỉnh. Quyết định 105/2009/QĐ-TTg ngày l9/8/2009 ban hành quy chế quản lý CCN đã thống nhất tên gọi là CCN và định nghĩa nhƣ sau: "CCN là khu vục tập trung các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, cơ sở dịch vụ phục vụ sản xuất; có ranh giới địa lý xác định, không có dân cƣ sinh sống; đƣợc đầu tƣ xây dựng chủ yếu nhằm di dời, sắp xếp, thu hút các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các cá nhân, hộ gia đình ở địa phƣơng vào đầu tƣ sản xuất, kinh doanh; do UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng (gọi chung là UBND cấp tinh) quyết định thành lập”.
Mục tiêu chủ yếu của thành lập, phát triển CCN ở nƣớc ngoài là phát triển liên kết, nâng cao khả năng cạnh tranh, còn mục tiêu trực tiếp của CCN ở Việt Nam hiện nay là: thu hút, di dời các các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể ở địa phƣơng vào đầu tƣ sản xuất, kinh doanh; sắp xếp làm tăng cơ sở hạ tầng thúc đẩy sản xuất kinh doanh và khắc phục ô nhiễm môi trƣờng. Các thành viên tham gia CCN ở nƣớc ngoài khá rộng rãi, bao gồm các nhà cung cấp, các cơ sở sản xuất, các tổ chức dịch vụ, các trƣờng đại học và Viện có quan hệ với nhau trong chuỗi giá trị sản xuất; còn ở Việt Nam, CCN chỉ tập trung các cơ sở sản xuất kinh doanh có liên hệ với nhau chủ yếu trong sử dụng chung cơ sở hạ tầng và xử lý môi trƣờng.