Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ VĂN HÓA 1. Khái niệm, đặc điểm quản lý nhà nước đối với hoạt động dịch vụ văn hóa 1. Khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động dịch vụ văn hóa Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật; Những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh ấy tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [17, tr. Nhân phát động thập kỷ phát triển văn hóa, nguyên Tổng Giám đốc UNESCO, F.Mayor đã nhấn mạnh: “Kinh nghiệm của hai thập kỷ qua cho thấy rằng trong mọi xã hội ngày nay, bất luận ở trình độ phát triển kinh tế nào hoặc theo xu hướng chính trị nào, văn hóa và phát triển là hai mặt gắn liền với nhau (. Từ nay trở đi văn hóa cần coi mình là một nguồn bổ sung trực tiếp cho phát triển và ngược lại phát triển cần thừa nhận văn hóa giữ một vị trí trung tâm, một vai trò điều tiết xã hội. Như vậy, nhận định trên cho thấy sự đa dạng của văn hóa thế giới, văn hóa không đứng ngoài phát triển, văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
Từ góc độ tiếp cận về quản lý, có thể dễ dàng nhận thấy hai yếu tố quan trọng khi đề cập tới khái niệm văn hóa, gồm hoạt động văn hóa và giá trị văn hóa. Quản lý là sự chỉ đạo, điều khiển một hệ thống, một quá trình căn cứ vào các quy luật, định luật, nguyên tắc tương ứng để cho hệ thống, quá trình vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra [30, tr. Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là chức năng của nhà nước, là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, bao hàm cả sự tác động, tổ chức của 6 quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước [18].
Quản lý văn hóa là công việc của nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương nói riêng, cả nước nói chung. Quản lý nhà nước về văn hóa là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của Nhà nước bằng hệ thống pháp luật và bộ máy nhằm phát triển văn hóa, điều chỉnh hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực văn hóa và liên quan. Quản lý nhà nước đối với hoạt động dịch vụ văn hóa nhằm tạo môi trường thông thoáng, ổn định, định hướng, hỗ trợ, thúc đẩy các hoạt động dịch vụ văn hóa phát triển nhưng có trật tự nhằm giải quyết hài hòa các lợi ích. Thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động dịch vụ văn hóa nhằm đảm bảo trật tự, kỷ cương, uốn nắn những hiện tượng, hành vi vi phạm pháp luật.
Điều khiển những hoạt động của văn hóa, đời sống văn hóa đi theo đúng chuẩn mực xã hội chủ nghĩa để phát triển hoàn thiện nhân cách của từng cá nhân trong cộng đồng từ đó góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Tóm lại, quản lý nhà nước đối với hoạt động dịch vụ văn hóa là phương thức mà thông qua hệ thống các công cụ quản lý bao gồm pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước tác động vào đối tượng quản lý để định hướng, điều chỉnh những hoạt động của xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật trên lĩnh vực văn hóa đi theo định hướng, đúng mục đích theo đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển văn hóa trong từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đặc điểm quản lý nhà nước đối với hoạt động dịch vụ văn hóa 1. Về chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động dịch vụ văn hóa Chủ thể của quản lý nhà nước đối với hoạt động dịch vụ văn hóa là Nhà nước, thông qua các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân các cấp và cơ quan chuyên môn giúp việc như Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Phòng Văn hóa và Thông tin), đội ngũ cán bộ, công chức làm việc ở các cơ quan đó; khác với chủ thể trên, chủ thể quản lý nhà nước về phòng, chống mại dâm tại địa phương thì cơ quan chuyên môn giúp việc là Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội,… mỗi lĩnh vực sẽ có cơ quan nhất định chủ trì, phối hợp thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước.
Hay có thể hiểu chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động dịch vụ văn hóa là các tổ chức, cá nhân trực tiếp tham gia vào hoạt động quản lý dịch vụ văn hóa và có một quyền lực nhất định (tính mệnh lệnh đơn phương) buộc các đối tượng quản lý phải tuân thủ các quy định do mình đề ra để đạt được những mục tiêu đã định trước. Chủ thể quản lý nhà nước đối với dịch vụ văn hóa có tính quyền lực nhà nước và gắn liền với thẩm quyền, nếu tách rời thẩm quyền thì không có chủ thể quản lý; được thực hiện chủ yếu thông qua các quyết định quản lý (cấp phép vũ trường, karaoke; cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh internet, băng, đĩa, xử phạt vi phạm hành chính,…), văn bản hành chính (thông báo, hướng dẫn quy định pháp luật,…) và hành vi hành chính (hoạt động thanh tra, kiểm tra). Lĩnh vực hoạt động dịch vụ văn hóa rất rộng, bao gồm lưu hành, kinh doanh băng, đĩa ca nhạc, sân khấu; biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; triển lãm văn hoá, nghệ thuật; tổ chức lễ hội; viết, đặt biển hiệu; hoạt động vũ trường, karaoke, trò chơi điện tử, các hoạt động văn hoá, dịch vụ văn hoá và các hình thức vui chơi giải trí khác. Về đối tượng quản lý nhà nước đối với hoạt động dịch vụ văn hóa Đối tượng của quản lý nhà nước về dịch vụ văn hóa hay khách thể quản lý là các quá trình của xã hội, các hành vi hoạt động của con người, là trật tự quản lý mà chủ thể quản lý bằng sự tác động lên khách thể quản lý thông qua các phương pháp 8 quản lý và công cụ quản lý nhất định nhằm thiết lập được những mục tiêu đã đề ra.
Khách thể của quản lý nhà nước đối với hoạt động dịch vụ văn hóa rất đa dạng, bao gồm rất nhiều loại hành vi, quá trình thuộc lĩnh vực dịch vụ văn hóa như hoạt động cung cấp dịch vụ internet, dịch vụ karaoke, hoạt động biểu diễn thời trang,…; đồng thời, liên tục vận động, biến đổi và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Chủ thể quản lý và khách thể quản lý có tính tách biệt tương đối, có mâu thuẫn với nhau nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Về nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động dịch vụ văn hóa Điều 60, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Nhà nước, xã hội tạo môi trường xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; xây dựng con người Việt Nam có sức khỏe, văn hóa, giàu lòng yêu nước, có tinh thần đoàn kết, ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân”. Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động dịch vụ văn hóa được thực hiện thống nhất từ trung ương đến địa phương, cụ thể: Ở trung ương, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về văn hóa trong phạm vi cả nước được quy định cụ thể tại Nghị định số 79/2017/NĐ-CP ngày 17 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ.
Theo đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có nhiệm vụ và quyền hạn: - Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các dự án luật, dự thảo nghị quyết, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, quyết định, chỉ thị và các văn bản khác về hoạt động dịch vụ văn hóa thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ. Ban hành thông tư, quyết định, chỉ thị và các văn bản khác về quản lý nhà nước đối với hoạt động dịch vụ văn hóa thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ. - Hướng dẫn và tổ chức thực hiện quy hoạch phát triển nghệ thuật biểu diễn sau khi được phê duyệt; các quy định của pháp luật về biểu diễn, tổ chức biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; thi người đẹp và người mẫu; lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu; hoạt động triển lãm văn hóa, nghệ thuật; thực hiện quản lý nhà nước về quảng cáo theo quy định của pháp luật; hướng 9 dẫn việc xây dựng quy hoạch quảng cáo ngoài trời; tổ chức thẩm định sản phẩm quảng cáo. - Hướng dẫn, tổ chức thực hiện quy hoạch về thiết chế văn hóa cơ sở sau khi được phê duyệt; quy định việc tổ chức liên hoan, hội thi, hội diễn văn nghệ quần chúng, tổ chức hoạt động văn hóa; quản lý hoạt động văn hóa, kinh doanh dịch vụ văn hóa và vui chơi giải trí nơi công cộng; quản lý hoạt động lễ hội.
- Thanh tra, kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.