CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC ĐỐI VỚI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI THEO PHÂN CẤP QUẢN LÝ CHO CẤP TỈNH 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Mặc dù là một khoa học non trẻ nhưng do nhu cầu thực tiễn nên khoa học quản lý nói chung, lý luận về quản lý giáo dục nói riêng có sự phát triển nhanh, mạnh trong giai đoạn từ thế kỷ 18 đến nay. Theo đó, các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này tương đối phong phú. Căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu và giới hạn của đề tài luận án, luận án tập chung hệ thống, phân tích những công trình nghiên cứu tiêu biểu trực tiếp liên quan đến vấn đề quản lý nhà nước về giáo dục và các công cụ của quản lý nhà nước về giáo dục đối với cơ sở GDCYTNN, đặc biệt là những nghiên cứu về chính sách giáo dục thuộc lĩnh vực này.
Nghiên cứu ở nước ngoài Quá trình hội nhập quốc tế diễn ra ở các quốc gia với tốc độ và quy mô khác nhau, tuy nhiên, những vấn đề về quản lý nhà nước đối với giáo dục trong bối cảnh này đều được các quốc gia quan tâm nghiên cứu. Cuối những năm 70 của thế kỷ XX, tại Trung Quốc không chỉ dẫn đến sự biến đổi sâu sắc về xã hội mà còn kéo theo sự tiến bộ nhanh chóng về khoa học kỹ thuật, giáo dục [69]. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã nhận định “ Sự thua kém về kinh tế của Trung Quốc so với các nước phát triển chủ yếu thể hiện ở sự thu kém về trình độ phát triển khoa học kỹ thuật, cũng tức là thua kém về giáo dục đào tạo nhân tài” [36, tr. Để nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu của Trung Quốc trước những thách thức của nền kinh tế tri thức, hệ thống giáo dục đã được điều chỉnh lại để phù hợp với tình hình mới nhất là sau khi Trung Quốc ra nhập WTO.
Kể từ năm 1990, các nhà khoa học giáo dục Trung Quốc đã nghiên cứu đề xuất với chính phủ ban hành một số văn bản pháp lý điều chỉnh giáo dục xuyên quốc gia, văn bản pháp lý quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự phát triển của giáo dục xuyên quốc gia đó là 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luật giáo dục của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được ban hành năm 1995, trong đó khuyến khích sự trao đổi hợp tác với nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Dựa trên đạo luật này, hai văn bản liên quan đến giáo dục xuyên quốc gia đã được ban hành đó là:” Các qui định tạm thời về cơ chế hợp tác Trung Quốc- Nước ngoài trong điều hành các cơ sở đào tạo” được ban hành bởi Ủy ban nhà nước về giáo dục SEC vào năm 1995 và “Qui chế của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về cơ chế hợp tác Trung Quốc - Nước ngoài trong điều hành các cơ sở đào tạo”[69]. Trong các văn bản này Trung Quốc qui định rõ về các điều kiện thành lập các trường có yếu tố nước ngoài, trách nhiệm của chính quyền trung ương, chính quyền địa phương và các loại trường, các cấp học, các ngành học mà các trường dạng này được phép thành lập và các vấn đề quản lý chất lượng giáo dục nhằm đào tạo nhân tài nhiều lĩnh vực để xây dựng nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Ở Thái Lan hiện nay có tới 107 trường quốc tế, chủ yếu là học theo chương trình của Anh và Mỹ [52]; [92]; [94].
Cách đây 8 năm, số trường kiểu này chỉ có 30. Xu hướng này được cổ vũ bởi sự toàn cầu hóa, với sự xuất hiện của hàng loạt công ty đa quốc gia đầu tư mạnh vào Thái Lan và khu vực trong những năm 1990. Thái Lan cũng là nước đầu tiên trong khu vực nới lỏng các quy định về giáo dục quốc tế, ngay từ đầu những năm 90, cho phép các trường này tuyển tới 50% học sinh là người địa phương. Chính phủ Thái Lan ngay từ khi đó rất chú trọng và thấu hiểu nhu cầu "tạo ra những con người có tầm nhận thức quốc tế" mà vẫn mang bản sắc dân tộc Thái.
Phụ huynh cũng mong muốn con em mình có điều kiện tiếp xúc với những chương trình ngoài phạm vi quốc gia, giúp học sinh tự tin và vượt trội hơn trong môi trường hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá. "Ngày càng nhiều bậc phụ huynh hiểu rằng các kỹ năng mà con họ cần nhiều hơn việc chỉ nghe đọc chính tả". Các trường này khẳng định họ sẽ đào tạo học sinh với chất lượng quốc tế, trong khi vẫn duy trì bản sắc Thái. Nhưng làm được điều đó không phải là dễ dàng.
Trường Harrow có 5 giờ học tiếng Thái mỗi tuần, và nhiều trường khác rất chú trọng 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đến việc tổ chức những ngày lễ của người địa phương. Tuy nhiên, cần thừa nhận rằng việc giáo dục theo chuẩn quốc tế ở đây luôn song hành với câu hỏi "bản sắc Thái sẽ nhượng bộ tính quốc tế đến mức nào?". Một vấn đề được quan tâm của các cơ quan quản lý giáo dục là chất lượng đào tạo nhằm bảo đảm quyền lợi của học sinh. Năm 2007 Thái Lan ban hành Luật Giáo dục Phổ thông Tư thục, trong đó bao gồm cả việc quản lý các trường phổ thông quốc tế.
Luật này có một số quy định đối với các trường quốc tế. Nhìn chung, ở Thái Lan, “sự mất cân đối trong hệ thống văn bản đối với giáo dục tư nhân sẽ dần được loại bỏ và các cơ sở giáo dục tư nhân sẽ được phép hình thành cấu trúc kinh doanh của mình nằm ngoài tầm kiểm soát của chính phủ” [36, tr. Trong xu thế hội nhập quốc tế, Singapore [36] đã tuyên bố sẽ là một trong gần một trăm thành phố trên thế giới sẽ là thành phố “toàn cầu hoá” sớm nhất. Để chuẩn bị chocon người đáp ứng yêu cầu toàn cầu hoá, Singapore chủ trương chuyển hệ thống giáo dục từ sử dụng tiếng Hoa sang sử dụng tiếng Anh là chủ yếu và mời 10 trường đại học hàng đầu thế giới mở cơ sở đào tạo ở Singapore để giúp đất nước này có nguồn nhân lực chất lượng cao.
Tại Indonesia [36], bên cạnh những trường thuần túy quốc tế, đã xuất hiện khái niệm “Chuẩn giáo dục quốc tế”, theo đó các tiêu chí chuẩn quốc tế được xem xét trên những khía cạnh: kiểm định, chương trình, qui trình dạy và học, đánh giá, giáo viên, hiệu trưởng, nguồn lực và tài chính. Từng khía cạnh này được mô tả kỹ bởi hệ thống các chỉ số cụ thể, chẳng hạn một trường được cho là đáp ứng chuẩn giáo dục quốc tế về mặt kiểm định, nó phải “được kiểm định bởi một tổ chức kiểm định nhà trường của bất kỳ một quốc gia thành viên OECD”. Do thể chế chính trị và phương pháp tổ chức quản lý giáo dục của các quốc gia có nhiều khác biệt nên những nghiên cứu về quản lý nhà nước về giáo dục rất đa dạng. Điểm chung của các nghiên cứu về quản lý nhà nước về 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giáo dục là chú trọng nghiên cứu, đánh giá về các công cụ quản lý nhà nước về giáo dục với mong muốn tìm kiếm các giải pháp hoàn thiện các công cụ này.
Một trong những công cụ đó là chính sách giáo dục. Nghiên cứu về chính sách được triển khai rộng rãi và thu được những kết quả khả quan khi nhu cầu xây dựng chiến lược phát triển của các quốc gia trở nên cấp bách [86]; Các tác giả tiêu biểu trong lĩnh vực nghiên cứu này là: Guba (1984), Hogwood and Gunn (1984), Jenning (1997), Haddad (1994), Crane (1982), Harman (1984). Các công trình nghiên cứu về chính sách của các tác giả này cho thấy: 1) Khái niệm chính sách được hiểu một cách rất mềm dẻo, nó bao gồm từ những quyết định ngắn hạn đến những quyết định có tính chiến lược nhưng đều có ảnh hưởng đến tổ chức và quốc kế dân sinh. 2) Có nhiều lý thuyết và mô hình chính sách khác nhau như: lý thuyết thương lượng, lý thuyết nhóm tinh hoa, mô hình duy lý, mô hình thay đổi từ từ, mô hình lợi ích, mô hình tổ chức, mô hình quá trình, mô hình bất định.
3) Mặc dù khái niệm chính sách và các lý thuyết mô hình chính sách là phức tạp, nhưng những đặc điểm chính của chính sách được thống nhất là: - Sự hình thành chính sách như một quá trình động. Tính năng động của chính sách có thể thấy trong suốt quá trình triển khai chính sách chứ không chỉ trong một thời điểm lựa chọn nào đó hoặc trong một vài nghiên cứu trường hợp cụ thể nào. - Quá trình chính sách cho phép xác định và nghiên cứu tác động qua lại không chỉ giữa những các giai đoạn của toàn bộ quá trình mà còn cả giữa các tổ chức tham gia trong quá trình cũng như giữa các tổ chức ở bên ngoài môi trường xã hội và kinh tế rộng lớn hơn. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Lợi thế của quá trình chính sách là tính mềm dẻo.
Điều này có nghĩa quá trình chính sách cho phép hệ thống hoá những tri thức đã có mà không gây sức ỳ ngăn cản tổ chức hướng về tương lai trong suốt quá trình chính sách. 4) Quá trình chính sách bao gồm nhiều bước và bao hàm nhiều quyết định của các nhà làm chính sách. Những vấn đề lý luận cốt lõi về chính sách nêu trên là cơ sở cho các nghiên cứu về chính sách giáo dục. Do những khác biệt của giáo dục so với các lĩnh vực, các hoạt động kinh tế xã hội khác nên chính sách giáo dục mang những đặc trưng riêng.
Sự không tường minh của các mục tiêu, môi trường bên ngoài và quyết định của những nhà làm chính sách trong hệ thống giáo dục ảnh hưởng rất nhiều đến việc xây dựng chính sách giáo dục. Phần lớn các nghiên cứu về chính sách hợp tác quốc tế trong giáo dục được triển khai đối với giáo dục đại học. Tiêu biểu trong nghiên cứu về chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học là Hiệp ước Bologa [81]. Hiệp ước này được Bộ trưởng giáo dục của 29 nước Châu Âu ký vào năm 1999 và mở rộng cho các nước khác tham gia khi có nhu cầu.
Đến nay, đã có 47 nước là thành viên của Hiệp ước.