Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu trên thế giới Học tập là một quá trình trong đó chủ thể tự biến đổi mình, tự làm phong phú mình bằng cách thu thập và xử lý thông tin từ môi trường sống xung quanh, các hoạt động nhận thức tích cực của người học sẽ đem lại kết quả cao.Keeves (1996) trình bày quy trình tổ chức hướng dẫn NCKH trong đó có việc hướng dẫn SV những thủ tục và kỹ thuật NCKH, các phương pháp đo lường trong NCKH có việc sử dụng các công cụ, thiết bị NC kể cả công nghệ thông tin và máy tính.A cho rằng: Nghiên cứu khoa học của sinh viên đại học là một trong những hình thức hoàn thiện nhất về mặt đào tạo khoa học, có hiệu quả thiết thực đối với việc nâng cao trình độ của sinh viên. [36] Brian Allison đã nêu lên những vấn đề lý thuyết về NCKH, trong đó có nói tới các kỹ năng tiến hành điều tra việc thiết kế bảng hỏi đến kỹ thuật phỏng vấn.
[35] Edward Vockell cho rằng: nghiên cứu giáo dục không chỉ là một khoa học trừu tượng. Nó là một công cụ hữu ích để giải quyết những vấn đề thực tế. Nó giúp các nhà giáo dục xác định những kết quả cần đạt, tạo ra các dự đoán, xây dựng những mối quan hệ nhân quả. [36] Theo Uôntơ “Chúng ta có thể nâng cao khả năng NCKH nếu chúng ta được đào tạo một cuộc sống khoa học rất phong phú thông qua những cuộc trao đối kinh nghiệm rất rộng rãi và những cuộc tranh luận trao đổi ý kiến, tổ chức các hội nghị khoa học ngay cả trong các khoa của các trường đại học.
Để nâng cao hiệu suất NCKH, tăng cường cộng tác tập thề và giải quyết các vấn đề một cách toàn bộ, mỗi vấn đề là một phạm vi nghiên cứu quan trọng, liên quan đến việc thu hút SV vào trong công tác nghiên cửu và nhiệm vụ gắn liền với công tác đó nhằm phát triển khả năng sáng tạo của SV”. Ngoài ra tác giả còn đề cập tới phương pháp quản lý, hướng dẫn SV trong 8 việc NCKH có hiệu quả đó là phải tổ chức tạo mọi điều kiện cần thiết để SV thể hiện tính tích cực, độc lập ở mức độ cao nhất, giáo viên chỉ giữ cho mình việc theo dõi, việc tổ chức thực hiện NCKH và giám sát, định hướng nghiên cứu của sinh viên, giúp họ đi đúng yêu cầu, đúng đích của việc nghiên cứu đặt ra. Như vậy, NCKH của người học là đòi hỏi có tính bắt buộc ở bậc học đại học, đồng thời người thầy, nhà quản lý có vai trò quan trọng đối với hoạt động NCKH của người học. Những nghiên cứu trong nước 1.Những nghiên cứu về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học của sinh viên đại học Tác giả Đặng Vũ Hoạt,Hà Thị Đức [17] và tác giả Phạm Viết Vượng [34] đã khẳng định tầm quan trọng của NCKH đối với SV, đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả của các hoạt động này.
Nói chung, các công trình khoa học trên đã cung cấp những vấn đề cơ bản về phương pháp luận, phương pháp NCKH và công nghệ của ngành giáo dục và đào tạo với đặc điểm tình hình trong giai đoạn đó. Những nghiên cứu về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học ở trường đại học Nhận thức đúng đắn về vai trò quyết định của công tác quản lý đối với hoạt động NCKH, những khó khăn vướng mắc trong quá trình hoạt động NCKH ở các trường cao đẳng, đại học, các nhà khoa học đã có những nghiên cứu ở nhiều góc độ, khía cạnh và cấp độ khác nhau. Vận dụng những thành tựu về khoa học quản lý nói chung vào quản lý giáo dục, các công trình nghiên cửu, giáo trình của Nhà trường quản lý giáo dục, các tác giả: Đặng Quốc Bảo, Trần Kiểm, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Thị Mỹ Lộc,. đã cung cấp nhiều vấn đề về quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, trong đó có nội dung quản lý hoạt động NCKH của SV ở các trường đại học và cao đẳng, đây là những vấn đề có liên quan chặt chẽ tới công tác quản lý giáo dục, trong đó có quản lý hoạt động NCKH của SV ở các trường đại học.
Năm 1995, Viện Nghiên cứu phát triển Giáo dục chủ trì đề tài “Điều tra, đánh giá hiện trạng tiềm lực khoa học và công nghệ của các trường đại học và cao 9 đẳng Việt Nam” [16], là đề tài, do tác giả Thân Đức Hiền làm chủ nhiệm. Đề tài này chỉ dừng lại ở khâu kiểm tra nguồn lực khoa học và công nghệ của các trường và cao đẳng, đại học tại thời điểm đó mà chưa đề cập đến giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ. Tác giả Vũ Cam Đàm nhấn mạnh “NCKH là một hoạt động Xã hội hướng vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết hoặc phát hiện ra bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới hoặc sáng tạo phương pháp mới, phương tiện kỹ thuật mới đế cải tạo thế giới”.[10] Phùng Quốc Việt với bài viết “Nâng cao chất lượng công tác nghiên cửu khoa học trường Đại học Hùng Vưong” đã nghiên cứu thực trạng, tìm ra những nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả của hoạt động NCKH của trường Đại học Y Hà Nội, tác giả đã đưa ra các biện pháp QL để nâng cao chất lượng hiệu quả cho NCKH của nhà trường. Một số bài học kinh nghiệm và những định hướng nghiên cứu tiếp của luận văn Liên quan đến đề tài quản lý hoạt động NCKH của SV đã có rất nhiều tài liệu trong nước và nước ngoài đề cập dưới nhiều góc độ và nội dung, nhiều công trình đã cung cấp những cơ sở và hệ thống lý luận quan trọng về quản lý, QL giáo dục, QL NCKH, QL NCKH của SV.
Nhìn chung, các tác giả đã phân tích nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả NCKH và hướng giải quyết vấn đề thực tiễn trong công tác quản lý hoạt động NCKH ở trường đại học và cao đẳng, các tác giả đều đề cao ý nghĩa, vai trò của NCKH đối với việc nâng cao chất lượng dạy và học. Nhưng mỗi vấn đề chỉ giải quyết một vấn đề riêng, chỉ có giá trị gắn với nhà trường trong giai đoạn lịch sử ngắn với những hoàn cảnh chính trị, kinh tế nhất thời. Cho đến nay chưa có một công trình nào NC QL hoạt động NCKH của SV Trường ĐHYHN trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam. Vì vậy, vấn đề đặt ra trong luận văn này sẽ tập trung vào NC lý luận và thực tiễn về QL hoạt động NCKH của SV ĐHYHN, cụ thể: QL công tác tư tưởng nhận thức về NCKH của SV; phân cấp thực hiện QL hoạt động NCKH của SV; QL các 10 nguồn lực cho hoạt động NCKH của SV; QL các hình thức NCKH và kỹ năng NCKH của SV; kiểm tra, đánh giá hiệu quả QL hoạt động NCKH của SV.
Từ đó,chúng tôi sẽ đề xuất các biện pháp QL khoa học có tính khả thi, hiệu quả góp phần nâng cao công tác QL của nhà trường về NCKH của SV; thúc đẩy nâng cao chất lượng hiệu quả QL của nhà trường về hoạt động NCKH của SV nói riêng và nâng cao chất lượng ĐT của Trường ĐHYHN nói chung. Một số khái niệm có liên quan đến đề tài 1. Khái niệm quản lý Có rất nhiều khái niệm về quản lý theo các cách tiếp cận khác nhau, ở đây tác giả nghiên cứu một số khái niệm của các tác giả: Theo Mary Parker Follet: "Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc được thực hiện thông qua người khác". Robert Albanese cho rằng: "Quản lý là một quá trình kỹ thuật và xã hội nhằm sử dụng các nguồn, tác động tới hoạt động của con người và tạo điều kiện thay đổi để đạt được mục tiêu của tổ chức".
Robert Kreitner viết:"Quản lý là tiến trình làm việc với và thông qua người khác để đạt các mục tiêu của tổ chức trong một môi trường thay đổi. Trong tâm của tiến trình này là kết quả và hiệu quả của việc của việc sử dụng các nguồn lực giới hạn". Nguyễn Minh Đạo nhận định:"Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra". [11] Các tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức cho rằng: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định”.[17] Từ những quan niệm này, chúng tôi nhận thấy, quản lý là một hoạt động liên tục và cần thiết khi con người kết hợp với nhau trong tổ chức.
Đó là quá trình tạo nên sức mạnh gắn liền các hoạt động của các cá nhân với nhau trong một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung. Quản lý bao gồm các yếu tố sau: 11 - Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp từ chủ thể quản lý. Tác động có thể liên tục nhiều lần. - Muốn quản lý thành công, trước tiên cần phải xác định rõ chủ thể, đối tượng và khách thể quản lý.
Điều này đòi hỏi phải biết định hướng đúng. - Chủ thể quản lý phải thực hành việc tác động và phải biết tác động. Vì thế chủ thể phải hiểu đối tượng và điều khiển đối tượng một cách có hiệu quả. - Chủ thể có thể là một người, một nhóm người; còn đối tượng có thể là con người (một hoặc nhiều người), giới vô sinh hoặc giới sinh vật.
Tóm lại: Quản lý là một quá trình tác động, gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý một cách hợp quy luật nhằm đạt được mục tiêu chung. Công cụ quản lí Chủ thể quản lí Khách thể quản lí Mục tiêu quản lí Phương pháp quản lí Sơ đồ 1.1: Bản chất của hoạt động quản lý Chức năng quản lý: Chức năng quản lý được coi là dạng hoạt động quản lý sinh ra một cách khách quan từ chức năng sản xuất của khách thể quản lý. Nó được coi là dạng hoạt động quản lý vì nó gồm 4 chức năng: Kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá.