chương I, điều 10 có ghi: "Nhà nước bảo đảm tự do NCKH, sáng tác văn học nghệ thuật và các hoạt động văn hóa khác trong các trường cao đẳng theo đúng pháp luật", trong đó có quyền và nghĩa vụ NCKH của sinh viên, coi đây là một biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo [10, tr 257]; Hoa Kỳ trong Chiến lược 1998 - 2000 của Bộ Giáo dục đã ghi nhận NCKH trong giáo dục góp phần cải thiện nền giáo dục quốc gia, Hoa kỳ đã xác định những vấn đề ưu tiên tổ chức cho sinh viên NCKH [10, tr. Trong tác phẩm "Research and Report Writing" [28], tác giả Francesco Cordasco và Elliots S.Galner đã chỉ ra những hoạt động cụ thể để hình thành kỹ năng NCKH cho sinh viên. Năm 1990, Gary Anderson (New York), trong tác phẩm " Fundamentals of educational research”. [28], tác giả chú trọng đến việc tìm tòi các nguyên tắc, phương pháp cũng như công cụ, kỹ thuật NCKH để huấn luyện cho sinh viên.
Tại Singapore năm 1983, hai tác giả Keith Howard và John A.Sharp đã biên soạn tài liệu " The management of a student research project" [29] nhằm giúp sinh viên biết cách quản lý kế hoạch nghiên cứu. Các tác giả đã trình bày những vấn đề về chọn lựa đề tài, xây dựng kế hoạch nghiên cứu, tập hợp, phân tích, xử lý và đánh giá kết quả NCKH. Năm 1996, tác giả Brian Allison trong cuốn " Research skills for students - National institute of education [26] đã giúp cho sinh viên những lý thuyết về NCKH, cung cấp kỹ năng tiến hành một cuộc điều tra, thiết kế một bảng hỏi và những kỹ thuật khi sử dụng phương pháp phỏng vấn. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy ở nước ngoài, NCKH trên giảng đường đại học đã được coi trọng ngay từ đầu, trở thành nhiệm vụ bắt buộc của mỗi sinh viên khi bước chân vào giảng đường đại học.
Ở trong nước: Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến KHCN, Người cho rằng KHCN có ảnh hưởng rất lớn đến sự nghiệp đấu tranh và giải phóng dân tộc. Muốn xây dựng và phát triển đất nước thì phải quan tâm tới KHCN, Người không ngừng chăm lo bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật để phục vụ nước nhà. Thập niên đầu của thế kỷ XXI đang dần khép lại, nhân loại đã tiến được những bước dài và đã đạt được những thành tựu kỳ diệu trên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Cách mạng khoa học và công nghệ tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống, thế giới bước vào kỷ nguyên thông tin.
Quan niệm trường đại học là nơi người học tiếp thu tri thức và sử dụng nó cho nghề nghiệp của mình cần phải thay đổi. Đứng trước yêu cầu cấp thiết của việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học được xem là vấn đề trọng tâm hàng đầu, sau đó là những vấn đề mới về nội dung, chương trình, công tác quản lý, kiểm định và đánh giá. Về lĩnh vực này, đã có nhiều ý kiến khác nhau, song ở môi trường đại học, trước hết, phải thực hiện chính sách gắn nghiên cứu khoa học với giảng dạy, phải xem là tiêu chuẩn, là yêu cầu bắt buộc đối với sinh viên và đội ngũ giảng viên. Sinh viên bên cạnh việc rèn luyện văn hóa cần tích cực tham gia nghiên cứu khoa học.
Hai nhiệm vụ này có quan hệ tương hỗ lẫn nhau và nếu chỉ thực hiện được một trong hai yêu cầu nói trên thì xem như chưa hoàn thành nhiệm vụ của mình. Trong bối cảnh hiện nay, để khoa học đáp ứng được yêu cầu cho nền sản xuất hiện đại, các tri thức khoa học phải trở thành tài sản của đông đảo đội ngũ những người làm khoa học, Nhưng trên thực tế, giáo dục đại học hiện nay ở nước ta đang thể hiện sự bất cập giữa nghiên cứu và học tập của sinh viên trên giảng đường đại học. Chính điều này là rào cản 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho hội nhập trong lĩnh vực khoa học và nếu không có quyết sách đúng đắn thì sẽ khó có thể đạt được mục tiêu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Hầu hết ở các quốc gia, sự đánh giá giáo dục đại học được coi trọng, do đó việc đầu tư nhân lực và vật lực cho giáo dục đại học được quan tâm thường xuyên.
Mối quan tâm đến chất lượng là kết quả trực tiếp của sự gia tăng mối quan tâm được các Chính phủ biểu lộ với tính cạnh tranh quốc tế trong các nền kinh tế dựa trên sức mạnh của các lĩnh vực KH&CN. Do đó, với quan điểm luôn luôn thích ứng trong đào tạo và nghiên cứu, các trường đại học thấy được sự cần thiết của việc hướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học và bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ giáo viên vững vàng chuyên môn để hướng dẫn, định hướng sinh viên nghiên cứu khoa học một cách có hiệu quả. Đối với một cơ sở giáo dục đại học, giảng dạy và NCKH là hai nhiệm vụ chức năng cơ bản có quan hệ gắn bó biện chứng và hữu cơ với nhau, có vai trò tác động qua lại lẫn nhau và định chế lẫn nhau thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của nhau. Để nâng cao chất lượng GD&ĐT mỗi GV, SV phải không ngừng nâng cao chất lượng bài giảng chất lượng học tập, ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào trong thực tiễn giảng dạy và đào tạo.
Làm thế nào để tạo được động lực, nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên và sinh viên các trường đại học là vấn đề quan tâm của mọi cấp, mọi ngành nói chung và của từng cơ sở giáo dục đại học nói riêng. Một trong những cách làm có hiệu quả và được nhiều cơ sở giáo dục đại học áp dụng đó là đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên và sinh viên đại học. Một trong những tiêu chí ảnh hưởng đến hoạt động nghiên cứu khoa học của một trường đại học là việc quản lý, định hướng hoạt động quản lý nghiên cứu khoa học sao cho hiệu quả. Trên thực tế, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học trong các trường đại học được đưa vào ứng dụng thực tế.
Điều này cho thấy, vấn đề quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học trong các 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trường đại học cần tiếp tục được nghiên cứu sâu sắc hơn; đặc biệt là những biện pháp quản lý nghiên cứu khái quát kinh nghiệm thực tiễn từ chính HVTC. Một số khái niệm cơ bản.1 Khái niệm về KHCN, hoạt động NCKH, quản lý hoạt động NCKH. Theo định nghĩa của UNESCO, hoạt động khoa học và công nghệ (scientific and technological activities) là: các hoạt động có hệ thống liên quan chặt chẽ với việc sản xuất, nâng cao, truyền bá và ứng dụng các tri thức khoa học và kĩ thuật trong mọi lĩnh vực của khoa học và công nghệ, là các khoa học tự nhiên, engineering và công nghệ, các khoa học y học và nông nghiệp, cũng như các khoa học xã hội và nhân văn.] Những nhân tố cơ bản đặc trưng cho hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ là: tính sáng tạo; tính mới hoặc đổi mới; sử dụng các phương pháp, cơ sở khoa học; sản xuất ra các kiến thức, giải pháp công nghệ, sản phẩm mới. Các quan điểm tiếp cận trong nghiên cứu khoa học gồm: quan điểm hệ thống, quan điểm phát triển, quan điểm thực tiễn và quan điểm khách quan.] Khoa học là một lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp đặc thù.
Khoa học ngày càng trở thành nhu cầu không thể thiếu của sản xuất, của đời sống xã hội nói chung và của nhân loại. Do đó, việc đào tạo và sử dụng đội ngũ khoa học sáng tạo hiện nay là quốc sách hàng đầu đối với mọi quốc gia. Phẩm chất của người làm khoa học là sự hội tụ của các yếu tố: sự hiểu biết sâu rộng, có sáng tạo, có sự phê phán khoa học, luôn tham gia vào quá trình phổ biến khoa học và hoạt động khoa học, có lương tri và đức độ, Đặc trưng hoạt động của lĩnh vực nghề nghiệp này là: - Chủ thể hoạt động là các nhà khoa học hoạt động độc lập, đặc trưng của hoạt động này là khám phá, tìm tòi. Kết quả nghiên cứu có thể là thành công 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoặc thất bại.
Do đó, đòi hỏi chủ thể nghiên cứu phải có ý chí phẩm chất cao về sự say mê, kiên trì, sáng tạo, dám phiêu lưu mạo hiểm.nhận thức của chủ thể về thế giới hiện thực rất khách quan, trung thực. - Đối tượng hoạt động của lĩnh vực này rất phong phú, đa dạng và phức tạp, đòi hỏi nhà khoa học phải huy động toàn bộ trí tuệ và sức lực (thậm chí cả cuộc đời, hoặc nhiều thế hệ) để giải quyết các vấn đề khoa học. - Công cụ lao động phục vụ cho hoạt động khoa học là hệ thống tri thức khoa học, kĩ năng nhận thức và kĩ năng chuyên biệt, gồm các phương tiện kĩ thuật phục vụ quá trình nghiên cứu, các kênh thông tin. - Sản phẩm của hoạt động khoa học cũng đa dạng và hết sức phong phú, nó có thể phục vụ trực tiếp hay gián tiếp cho đời sống xã hội.
Nét đặc trưng của sản phẩm này là có đóng góp mới cho nhân loại dù ở các mức độ khác nhau. Đó là hệ thống tri thức mới, phương pháp mới, cách làm mới có tác dụng định hướng cho các lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau, góp phần đổi mới hoặc cải tạo thực tiễn. Nghiên cứu khoa học của sinh viên là hoạt động quan trọng và cần thiết của công tác đào tạo, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo. Hoạt động NCKH của sinh viên nhằm mục đích: - Giúp sinh viên củng cố, tổng hợp và nâng cap kiến thức đã học và làm quen với các phương pháp tư duy và NCKH; tạo điều kiện để sinh viên đi sâu tím hiểu, nghiên cứu những vấn đề cụ thể mà chuyên môn đặt ra.
- Nâng cao chất lượng đào tạo và tự đạo tạo, phát hiện và bồi dưỡng tài năng trẻ cho đất nước. - Góp phần giải quyết một số vấn đề do thực tiễn đạt ra thông qua việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, đời sống và an ninh quốc phòng. Nội dung NCKH của sinh viên bao gồm: 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.